Thứ Năm, 1 tháng 9, 2011

Giá trị đích thực của nền độc lập

 

Cập nhật: 07:00 GMT - thứ năm, 1 tháng 9, 2011
Ông Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945
Việt Nam kỷ niệm 66 năm ngày Tuyên ngôn Độc lập
Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đã giành được độc lập và có chủ quyền.
Để giành được độc lập dân tộc, nhiều dân tộc trên thế giới đã phải hy sinh xương máu của nhiều thế hệ.
Nền độc lập của một quốc gia là vô giá, nhưng điều quan trọng hơn cả là nhân dân phải được hưởng những thành quả đích thực mà nền độc lập đó mang lại.
Giá trị đích thực của nền độc lập là nhân dân có quyền làm chủ đất nước của mình bằng cách lựa chọn hay thay đổi quốc hội, chính phủ thông qua cuộc bầu tự do và công bằng.
Nhân dân có tự do ngôn luận, có quyền làm báo chí tư nhân, có quyền lập đảng, lập hội, hội họp, có quyền biểu tình hòa bình mà không bị đàn áp, bắt bớ…
Những dân tộc, những quốc gia may mắn trên thế giới là ngay sau khi giành được độc lập, họ đã tiến hành dân chủ hóa xã hội và xây dựng lên một hệ thống chính trị dân chủ đa đảng, tôn trọng phẩm giá con người và các giá trị của quyền con người.
Trên nền tảng căn bản đó, nền kinh tế của họ phát triển đúng hướng và mạnh mẽ nên đã đảm bảo cho nhân dân các nước đó có cuộc sống sung túc, quốc gia hùng mạnh về kinh tế, chính trị và quân sự.
Xã hội phát triển hài hòa và ổn định giúp cho người được hưởng thụ những giá trị đích thực của một quốc gia độc lập. Ví dụ như những nước trong khu vực châu Á như: Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan,…

Bức tranh Đông Âu

Có những dân tộc, quốc gia không may mắn thì sau khi giành được độc lập, những lực lượng lãnh đạo cách mạng đã phản bội lại nhân dân, họ đã không thực hiện dân chủ hóa xã hội, không xây dựng hệ thống chính trị dân chủ đa đảng, mà xây dựng nên một chính thể có thể là chính quyền độc tài, độc tài quân sự, hay chế độ độc đảng toàn trị.
"Nền độc lập của một quốc gia là vô giá, nhưng điều quan trọng hơn cả là nhân dân phải được hưởng những thành quả đích thực mà nền độc lập đó mang lại. "
LS Nguyễn Văn Đài
Ở trong các chế độ này thì các quyền con người không được tôn trọng và hầu hết các quyền con người về chính trị bị hạn chế hoặc tước đoạt.
Ví dụ như quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí: khi người dân chỉ trích hay phê phán chính quyền thì bị qui chụp tội danh tuyên truyền chống Nhà nước, quyền tự do làm báo của công dân bị tước đoạt nên không có các tờ báo tư nhân; khi người dân thực hiện quyền lập đảng, lập hội hay tham gia các đảng phái thì bị qui chụp tội danh hoạt động nhằm lật đổ chính quyền; khi người dân thực thi quyền biểu tình thì bị qui chụp tội danh phá rối trật tự nơi công cộng hay tội chống người thi hành công vụ…
Hệ quả là nhân dân các quốc gia này phải tiếp tục tiến hành cuộc cách mạng dân chủ để thay đổi các chế độc tài, độc đảng toàn trị bằng một chế độ dân chủ, tôn trọng các quyền con người.
Ví dụ ở các nước Đông Âu: sau Thế chiến thứ II, một loạt các nước Đông Âu thoát khỏi hiểm họa của chủ nghĩa phát xít và giành được độc lập.
Thay vì tiến hành dân chủ hóa xã hội, tôn trọng các quyền con người thì đảng cộng sản ở các nước này thực hiện chuyên chính vô sản, xây dựng chế độc đảng toàn trị.
Sau nhiều thập kỷ bị mất quyền làm người thì vào cuối thập niên 80 của thế kỷ 20, nhân dân các nước đông Âu đã đứng lên làm cuộc cách mạng dân chủ mà người ta còn gọi là Cách mạng nhung để thay thế các chế độc đảng toàn trị bằng các chế độ dân chủ đa đảng.
Kết quả là ngày nay các nước Đông Âu đang dần hội nhập toàn diện với các nước Tây Âu về kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao.

Độc lập và dân chủ

Ở các nước Trung Đông và Bắc Phi hầu hết đều là các quốc gia độc lập, nhưng nhiều chính thể ở các quốc gia đó là chính phủ độc tài hoặc độc đảng toàn trị.
Biểu tình ở Libya
Người dân Libya biểu tình chống chế độ độc tài
Sau nhiều thập kỷ phải chịu đựng sự cai trị hà khắc của các chế độ này thì gần đây nhân dân các nước Ai Cập, Tunisia đã đứng lên làm cuộc cách mạng dân chủ và đã thành công.
Nhân dân Libya cũng sắp thành công và sớm hay muộn thì cuộc cách mạng dân chủ ở Yemen và Syria cũng sẽ thành công.
Tuy nhân dân các nước này sẽ gặp những khó khăn ngắn hạn trước mắt, nhưng chắc chắn cuối cùng những giá trị đích thực của độc lập sẽ đến với họ.
Trên thế giới có gần 200 quốc gia độc lập, có chủ quyền. Nhưng không phải tất cả nhân dân các nước đều được hưởng những giá trị đích thực của nền độc lập.
Độc lập dân tộc phải gắn liền với tiến trình dân chủ hóa xã hội và tôn trọng các quyền con người thì nhân dân mới từng bước được hưởng những giá trị của nền độc lập.
Còn có độc lập dân tộc mà không có dân chủ thì nhân dân đã làm cuộc cách mạng vô ích để thay thế sự cai trị của giặc ngoại xâm bằng sự cai trị độc ác hơn và tàn bạo hơn của giặc nội xâm.
Ngày 2/9/2011, chúng ta sẽ kỷ niệm 66 năm ngày độc lập.
Quí vị nghĩ gì về hiện tình đất nước? Chúng ta phải làm gì để tất cả mọi người dân Việt Nam đều được hưởng những giá trị đích thực của nền độc lập?
Bài viết phản ánh quan điểm của tác giả, một luật sư bất đồng chính kiến hiện đang thi hành lệnh quản chế tại gia ở Hà Nội.

Thứ Bảy, 6 tháng 8, 2011

XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ ĐA ĐẢNG Ở VIỆT NAM

XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ ĐA ĐẢNG Ở VIỆT NAM

Luật sư Nguyễn Văn Đài, Hà nội.

Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ đã phát biểu trước hội đồng xét xử phúc thẩm:

Tôi không chống đối Đảng cộng sản Việt Nam, tôi chỉ yêu cầu xây dựng một hệ thống đa đảng cho phép cạnh tranh lành mạnh vì lợi ích cuối cùng của nhân dân và đất nước.”

Tôi chia sẻ và ủng hộ quan điểm này của tiến sĩ Vũ. Sau đây tôi đặt ra một số câu hỏi và tự trả lời cũng như lý giải cho các câu hỏi ấy:

1/ Công dân Việt Nam có quyền kiến nghị về việc xây dựng một hệ thống chính trị đa đảng không?

Theo Hiến pháp Việt Nam năm 1992 qui định tại Điều 69 “công dân có quyền lập hội” và tại Điều 50 “Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị,… được tôn trọng,..” điều này được hiểu rằng các quyền con người về chính trị như quyền tham gia đảng phái, tổ chức chính trị hoặc quyền thành lập đảng phái, tổ chức chính trị được Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo vệ.

Tại Điều 52 qui định: “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật.” điều này được hiểu là công dân Việt nam dù là đảng viên đảng cộng sản hay là đảng viên của một đảng khác hay không theo một đảng phái nào thì đều bình đẳng như nhau trước pháp luật. Pháp luật không trao một đặc quyền nào cho những công dân là đảng viên đảng cộng sản. Và pháp luật cũng không tước đi một quyền nào của những công dân theo đảng phái khác hay không theo đảng phái.

Điều 53 qui định “Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước,” và Điều 69 qui định “Công dân có quyền tự do ngôn luận” qua hai Điều này được hiểu là công dân Việt Nam có quyền được tự do bày tỏ hay thảo luận các vấn đề có liên quan đến chính trị hay cải cách chính trị, cải cách dân chủ mà Nhà nước đang đề cập đến, đồng thời cũng có quyền kiến nghị với cơ quan Nhà nước về những điều mong muốn của mình. Thảo luận, bày tỏ quan điểm hay kiến nghị việc xây dựng hệ thống chính trị đa đảng ở Việt Nam là quyền của công dân được Hiến pháp qui định.

Điều 4 Hiếp pháp 1992 chỉ qui định đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, không qui định rằng ở Việt Nam chỉ được phép tồn tại duy nhất đảng cộng sản. Trong khi Điều 69 qui định công dân Việt Nam có quyền lập hội tức quyền lập đảng.

Hiện nay, Nhà nước do đảng cộng sản lãnh đạo đang kêu gọi cải cách hệ thống chính trị và dân chủ hóa xã hội. Mà công cuộc cải cách dân chủ phải bắt đầu từ hai phía đảng cầm quyền và người dân. Đồng thời sự ra đời và phát triển của các đảng phái đối lập là một yếu tố cần thiết của tiến trình dân chủ.

Bởi vậy, bất kỳ công dân Việt Nam nào cũng có quyền bày tỏ quan điểm hay kiến nghị xây dựng một hệ thống chính trị đa đảng ở Việt Nam. Điều này không trái với Điều 4 với Hiến pháp nhưng lại phù hợp với thực tiễn của tiến trình dân chủ hóa đất nước.

2/ Kiến nghị xây dựng hệ thống chính trị đa đảng có phải là chống lại đảng cộng sản Việt Nam không?

Từ năm 1945 đến giữa năm 1988 ở Việt Nam đã tồn tại một hệ thống chính trị đa đảng, trong đó có đảng cộng sản, đảng dân chủ và đảng xã hội. Mặc dù Hiến pháp năm 1980 tại Điều 4 có qui định đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội. Nhưng hệ thống chíng trị đa đảng này vẫn tồn tại cho tới giữa năm 1988 thì hai đảng dân chủ và đảng xã hội tự tuyên bố giải thể do đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử. Hai đảng này không bị giải tán do vi phạm Điều 4 Hiến pháp 1980. Ngày nay, đảng cộng sản Việt Nam với gần 4 triệu đảng viên, có hệ thống cơ sở vật chất và tổ chức đảng từ trung ương đến địa phương. Đảng cộng sản với đội ngũ đảng viên có trình độ cao và kinh nghiệm hơn 80 năm tồn tại và hoạt động, cho dù có thêm những đảng phái chính trị khác được thành lập và hoạt động thì họ cũng không phải là đối thủ của đảng cộng sản, nhưng nó lại là cần thiết cho tiến trình dân chủ hóa đất nước.

Đảng cộng sản không nên coi các đảng phái chính trị đối lập là kẻ thù của mình mà nên coi họ như một chất xúc tác giúp cho đảng cộng sản có ý thức và động lực để nhìn lại mình, hoàn thiện chính mình giúp cho đảng cộng sản có thể duy trì được sự ủng hộ của nhân dân. Đồng thời việc thành lập các đảng phái chính trị đối lập không phải là để chống lại đảng cộng sản mà quá trình phát triển tự nhiên và tất yếu của xã hội Việt Nam. Nhưng họ sẽ là sự thử thách đối với bản lĩnh, trình độ và kinh nghiệm của đảng cộng sản, giúp cho đảng cộng sản nỗ lực hơn, sáng tạo hơn trong việc lãnh đất nước. Và do vậy nhân dân và đất nước sẽ được hưởng lợi và đảng cộng sản cũng trở nên mạnh mẽ hơn.

Như vậy hệ thống chính trị đa đảng đã là một phần của lịch sử dân tộc Việt Nam với hơn 40 năm tồn tại và phát triển song hành với đảng cộng sản. Hệ thống chính trị đa đảng không hề mâu thuẫn hay chống lại đảng cộng sản. Ngày nay dân chủ hóa đất nước phải luôn gắn liền với việc xây dựng lại hệ thống chính trị đa đảng. Do vậy bất kể công dân Việt Nam nào mà kiến nghị việc xây dựng hệ thống chính trị đa đảng hay đứng ra thành đảng không phải là chống lại đảng cộng sản Việt Nam.

3/ Xây dựng hệ thống chính trị đa đảng sẽ đem lại lợi ích gì?

Các đảng phái đối lập là một thành phần cần thiết và bắt buộc phải có của tiến trình dân chủ hóa. Sự cạnh tranh và sự giám sát giữa các đảng phái sẽ giúp cho hệ thống chính trị hoạt động hiệu quả, nhân dân cũng sẽ thông qua các đảng phái đại diện cho mình để thực hiện quyền giám sát với đảng cầm quyền. Điều này giúp cho đảng cộng sản cầm quyền phải luôn luôn tự xem xét, kiểm điểm lại mình nhằm phát huy hết khả năng, trí tuệ để phục vụ nhân dân và đất nước.

Sự cạnh tranh và giám sát giữa các đảng phái sẽ chống tham nhũng một cách hiệu quả. Bởi dưới sự giám sát của các đảng khác và của nhân dân, buộc đảng cộng sản cầm quyền phải dân chủ hóa trong nội bộ của mình để lựa chọn những đảng viên ưu tú, có phẩm chất đạo đức, bản lĩnh và kinh nghiệm để tham gia chính quyền các cấp, đồng thời loại bỏ được những đảng viên yếu kém về phẩm chất đạo đức và năng lực, đảng viên tha hóa và cơ hội. Những điều này sẽ mang lại sức mạnh và uy tín cho đảng cộng sản, duy trì được sự ủng hộ của nhân dân với họ.

Xây dựng hệ thống chính trị đa đảng, dân chủ hóa đất nước sẽ xóa bỏ đi sự khác biệt về chính trị giữa Việt Nam với các nước dân chủ, văn minh trên thế giới. Giúp cho đất nước chúng ta có thể hội nhập một cách toàn diện với cộng đồng quốc tế. Từ đó chúng ta có thể xây được các mối quan hệ đồng minh với các cường quốc, nhằm giúp cho sự phát triển kinh tế, thương mại, hợp tác an ninh quốc phòng để bảo vệ chủ quyền lãnh hải quốc gia.

Như vậy khi xây dựng hệ thống chính trị đa đảng ở Việt Nam, tất cả mọi người dân, đất nước và đảng cộng sản đều được lợi và tất cả đều chiến thắng.

Tóm lại trong bài viết ngắn ngủi này tôi chưa thể trình bày hết được những vấn đề xung quanh việc xây dựng hệ thống chính trị đa đảng ở Việt Nam. Tôi sẽ trình bày thêm ở các bài viết khác về vấn đề này. Trong bài viết này tôi chỉ muốn chia sẻ và ủng hộ quan điểm của tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ về vấn đề này. Tôi mong muốn và ước ao nhận được sự chia sẻ đồng tình cũng như phản đối của các quí vị độc giả về bài viết này của tôi.



Hà Nội, ngày 3 tháng 8 năm 2011.


Thứ Tư, 3 tháng 8, 2011

QUYỀN BIỂU TÌNH

Quyền biểu tình là quyền Hiến định và là một trong những công cụ pháp lý để nhân dân thực hiện quyền lực của mình như qui định tại điều 2 Hiến pháp 1992 “…Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân...”.
Quyền biểu tình cũng là phương tiện để nhân dân bày tỏ ý chí, nguyện vọng và đòi hỏi của mình trước thực trạng kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng của đất nước.
Quyền biểu tình còn là vũ khí đấu tranh mạnh nhất và cuối cùng của nhân dân khi quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm sau khi tất cả các biện pháp giải quyết bằng thủ tục pháp lý khác không mang lại kết quả hài lòng cho nhân dân.
Bởi ý nghĩa to lớn của quyền biểu tình và quyền biểu tình là quyền Hiến định nên nó không bị hạn chế bởi qui định của các văn bản dưới luật.
Quyền biểu tình chỉ có thể bị hạn chế trong thời gian tình trạng khẩn cấp được công bố chính thức, đe dọa sự sống còn của quốc gia. Và luật về tình trạng khẩn cấp phải do Quốc hội ban hành.
Theo Hiến pháp Việt Nam 1992, nhân dân có hai công cụ pháp lý để thực hiện quyền lực của mình.
Công cụ thứ nhất, quyền bầu cử được qui định tại điều 54. Thông qua việc bầu cử, nhân dân có quyền lựa chọn người đại diện cho mình tại Quốc hội và Quốc hội bầu ra chính phủ.
Khi Quốc hội và chính phủ không hoàn thành nhiệm vụ cũng như ý nguyện mà nhân dân đã giao phó và ủy thác thì nhân dân có quyền thực thi các công cụ pháp lý thứ hai để giải tán Quốc hội và chính phủ.
Công cụ pháp lý thứ hai là quyền biểu tình được qui định tại điều 69.
Tại sao khi nhân dân thực hiện quyền biểu tình là thực thi quyền lực của mình? Bởi sau khi nhân dân bầu ra Quốc hội và Quốc hội bầu ra chính phủ để điều hành công việc của đất nước. Và trong suốt 5 năm nhiệm kỳ của mình chưa chắc là Quốc hội và chính phủ đã thực hiện đúng với những gì mà họ đã hứa hẹn với nhân dân.
Có thể là họ đã ban hành những đạo luật hay thực hiện những chính sách kinh tế xã hội, đối nội, đối ngoại gây thiệt hại cho lợi ích của nhân dân và lợi ích của quốc gia, đồng thời gây ra bất bình cho nhân dân.
Khi đó nhân dân sẽ thực hiện quyền biểu tình để phản đối những đạo luật hay những chính sách bất hợp lý đó của Quốc hội và chính phủ, buộc Quốc hội và chính phủ phải sửa đổi hoặc hủy bỏ các đạo luật hay chính sách đó.
Nếu như yêu cầu đó của nhân dân không được đáp ứng, thì những cuộc biểu tình của nhân dân sẽ kéo dài đến khi Quốc hội và chính phủ đó phải bị giải tán. Nhân dân sẽ thực hiện quyền bầu cử của mình để bầu ra Quốc hội và chính phủ mới phù hợp với ý trí và nguyện vọng của nhân dân.
"Nhân dân thực hiện quyền bầu cử để bầu ra Quốc hội, chính phủ và khi cần thiết nhân dân thực hiện quyền biểu tình để giải tán Quốc hội và chính phủ đó."
Nhân dân thực hiện quyền bầu cử để bầu ra Quốc hội, chính phủ và khi cần thiết nhân dân thực hiện quyền biểu tình để giải tán Quốc hội và chính phủ đó. Như vậy đó mới thực sự là mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân.

Bày tỏ nguyện vọng

Quyền biểu tình là phương tiện để nhân dân đòi hỏi, bày tỏ ý chí, nguyện vọng của mình trước thực trạng kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng của đất nước.
- Khi nền kinh tế rơi vào lạm phát, giá cả hàng hóa tiêu dùng, thực phẩm, xăng dầu tăng cao làm ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đến đời sống của nhân dân, trong khi chính phủ không có giải pháp hoặc có giải pháp nhưng không hiệu quả mà nguyên nhân có thể do lãnh đạo chính phủ quan liêu, yếu kém về năng lực. Bởi vậy nhân dân sẽ thực hiện quyền biểu tình để đòi hỏi sự thay đổi, trừng phạt những quan chức quan liêu, năng lực yếu kém và buộc họ phải từ chức để cho những người có tâm huyết và năng lực thực sự lãnh đạo.
- Khi nền kinh tế được đổi mới và phát triển nhanh chóng, trong khi thể chế chính trị không được đổi mới và cải cách cho phù hợp. Những quyền chính trị căn bản của nhân dân chưa được tôn trọng và thực hiện trên thực tế. Nhân dân sẽ thực hiện quyền biểu tình để đòi hỏi đổi mới và cải cách chính trị, thực hiện dân chủ hóa xã hội.
- Tham nhũng, đạo đức xã hội bị suy thoái đều là những vấn nạn xã hội nghiêm trọng. Và để thúc đẩy và tạo động lực mạnh mẽ trong việc chống tham nhũng, nhân dân có thể thực hiện quyền biểu tình nhằm vào những quan chức đã bị tố cáo tham nhũng, hoặc biểu tình ủng hộ cho những chiến dịch chống tham nhũng.
- Khi chủ quyền, an ninh quốc gia bị ngoại bang đe dọa, xâm chiếm. Nhân dân thực hiện quyền biểu tình để bày tỏ lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết của cả dân tộc trong việc phản đối và chống lại sự đe dọa, xâm chiếm của ngoại bang.
Quyền biểu tình cũng là vũ khí đấu tranh của nhân dân khi quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm:

Biểu tình không cần xin phép

Ở Việt Nam, cho đến thời điểm hiện tại, Quốc hội chưa ban hành luật biểu tình và các đạo luật khác có liên quan đến quyền biểu tình.
Bởi vậy mọi công dân Việt Nam được tự do thực hiện quyền biểu tình mà không cần phải xin phép hay đăng ký. Quyền biểu tình của công dân Việt Nam không bị ràng buộc hoặc hạn chế bởi bất cứ một đạo luật nào đang có hiệu lực.
Hiến pháp năm 1946 chỉ qui định công dân Việt Nam có quyền tự do tổ chức và hội họp. Nhưng từ Hiến pháp 1959, 1980 và 1992 đều qui định công dân Việt Nam có quyền biểu tình.
"Khi Trung Quốc bắt đầu gây hấn ở biển Đông thì nhân dân bắt đầu ý thức được quyền biểu tình của mình để bày tỏ lòng yêu nước. "
Trong thực tế, từ năm 1975 hầu như nhân dân ít thực hiện quyền biểu tình của mình, ngoại trừ những cuộc biểu tình tự phát, qui mô nhỏ ở các địa phương khi có tranh chấp với chính quyền trong việc đền bù, thu hồi đất.
Cho đến năm 2008 khi Trung Quốc bắt đầu gây hấn ở biển Đông thì nhân dân bắt đầu ý thức được quyền biểu tình của mình để bày tỏ lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc và để phản đối Trung Quốc vi phạm chủ quyền lãnh hải của Việt Nam.
Đặc biệt từ đầu tháng 6 năm 2011 tới nay, các tầng lớp thanh niên, sinh viên, trí thức, hưu trí… đã tổ chức các cuộc biểu tình ở Hà Nội và Sài Gòn vào ngày Chủ nhật hàng tuần để phản đối Trung Quốc vi phạm chủ quyền lãnh hải, và phá hoại tài sản của Việt Nam.
Những cuộc biểu tình này chưa thực sự thu hút được nhiều người dân tham gia, nhưng nó lại mang ý nghĩa hết sức quan trọng.
Đó là nhận thức và hiểu biết của nhân dân về quyền biểu tình đã được nâng cao và những người đã, đang và sẽ tham gia biểu tình thực sự là những con người có bản lĩnh và lòng dũng cảm. Họ đã thể hiện lòng yêu nước của mình, tinh thần đoàn kết dân tộc khi kẻ thù xâm phạm đến chủ quyền lãnh hải quốc gia.
Ngoài ra những cuộc biểu tình này còn có ý nghĩa tập dượt và tích lũy kinh nghiệm cho cuộc đấu tranh dân chủ hóa đất nước trong tương lai gần.

Trấn áp biểu tình là phạm tội

Điều 71 Hiến pháp qui định: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm.
Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật…”
Do đó trước hết phải khẳng định ngay những người ra lệnh và thực hiện mệnh lệnh đã vi phạm nghiêm trọng Hiến pháp Việt Nam năm 1992 khi họ giải tán, trấn áp và bắt giữ những công dân Việt Nam đang thực thi quyền biểu tình theo điều 69 Hiến pháp.
Công an khênh người biểu tình ở Hà Nội
LS Đài nói trấn áp biểu tình là vi hiến
Đồng thời người ra lệnh và người thực thi mệnh lệnh giải tán và trấn áp biểu tình đều là đồng phạm trong các trường hợp sau đây:
- Gây hậu quả chết người tham gia biểu tình: Họ có thể phạm tội giết người theo điều 93 Bộ luật hình sự(BLHS); hoặc tội làm chết người trong khi thi hành công vụ theo điều 97 BLHS.
- Gây thương tích cho người tham gia biểu tình: Họ có thể phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác theo điều 104 BLHS; hoặc tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác trong khi thi hành công vụ theo điều 107 BLHS.
- Khi họ bắt và giam giữ những người biểu tình thì họ có thể phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật theo điều 123 BLHS.
- Trong trường hợp làm hư hỏng tài sản của người tham gia biểu tình, người thi hành công vụ có thể phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo qui định tại điều 143 BLHS.
Như vậy, những người ra lệnh và những người thực hiện lệnh trấn áp biểu tình là họ vi phạm Hiến pháp, pháp luật và chống lại nhân dân.
Tôi kính mong quí vị độc giả góp ý kiến về bài viết này của tôi và cùng tham gia thảo luận: Nhân dân Việt Nam nên sử dụng quyền biểu tình của mình như thế nào?

REPORT ON THE VIOLATIONS OF HUMAN RIGHTS

REPORT ON THE VIOLATIONS OF HUMAN RIGHTS IN

TEMPORARY DETENTION CAMP 1, HANOI

Dear Sir/Madam,

I, attorney Nguyen Van Dai, had been detained nearly 10 months (from March 6, 2007 until January 4, 2008) at the detention center No. 1 in Hanoi before being transferred to Nam Ha prison in Ha Nam province. During the nearly 10 months of detention there, I was transferred to four (4) different detention cells, coming into contacts with hundreds of detainees. I, myself, have suffered as well as witnessed the trampling of human rights of these poor folks, the problem of corruption in the system of detention, which did not only violate the laws of Vietnam, but also violated the International Convention on political and civil rights. To help the international community to know and understand what is taking place in the detention camps of Vietnam, I write what I have endured and witnessed during my time in detention there:

1/ Detention facilities:

In accordance with the penal law of Vietnam, the basic standard for each detainee should be: a) at least 2 meter square sleeping space for a person, b) 2 liters of drinking water per person per day. But the room at the Hanoi temporary detention center for each detainee who has not yet been to the preliminary trial, is only 1.2 to 1.4 meter square, making the detention room always crowded and stuffy, especially during the summer. The temporary detainees are not allowed to use the mosquito net, although those areas are infested with mosquitoes. Through the use of polluted water, many mosquito bites when not treated promptly became infected and created skin lesions.

In the quarter for detainees who have not been through preliminary trials, clean drinking water are not provided. They are given very dirty water, drawn directly from the wells, to use for bathing, washing and sanitation. They have to use socks and washcloths to filter drinking water. In the prison chambers for those who had been tried in the first instance, boiled water is provided, but only in small amount, about 10 liters per day, to be divided among the more than 20 people, none on Saturdays and Sundays.

Food: The detention center provides detainees with only two meals per day, each meal consists a bowl of rice, and vegetables that are very dirty. Meat is given once a week, and less than 100 grams.

Contact: All information and contacts between detainees and their families are strictly prohibited until the investigation ends, or, in some cases, until after the hearing at first instance (especially in political proceedings). In the detention room there are no TV, radio or newspapers. The detainees are not privy to any news that going on in the outside.

2/ The life of the accused and their corrupt wardens:

A detention chamber is divided into four groups with different rights and privileges as follows:

- Upper Group: Special privilege group enjoys all the supplies sent in by families which are pooled together, they pick and choose the best foodstuffs and take the provisions according to their needs, the rest will be distributed back to the under privilege group below. They people are free to travel within the prison chamber and corridors. Those detainees who want to partake in the activities of the upper groups have to have their families pay the prison management about five million dong (approximately $300 USD in 2007) which is good for a term of about three months, after three months if the person has not been tried, the family must pay about one million more for each subsequent month.

- The In-between Group: This group is entitled to about 60% of the Upper groups. They are allowed to move about the cell chamber. The detainees who want to participate in these group activities must have their families pay the prison management between two to three million dong.

- Sanitation Team: These people have to do the sanitation chores in the cell, such as doing laundry, boiling water, making tea for the upper groups. They enjoy a little extra food every day which the upper group donate. Their families have to pay prison management from five hundred thousand to a million dong.

- The Dirt-Poor Group: These are people whose family economic conditions do not allow for bribes for their care. Every day they receive poor standards of detention, which consist of rice, some vegetables, and white salt. Once in a while, when their family brought in provision, they would receive about 1/3 of this family supplies. They have to sit bunching up, grasping their knees and are not free to travel within the cell. These people after a period of detention about three months or more, their health would decline, many would turn deeply depressive, became paralyzed and cannot walk.

3/ Method corruption of management

When a person comes into custody, the warden can assess his person's family circumstances through his records. Prison warden then would ask inmates who are in charge of assigning rooms for new detainees to see what groups he would like to participate with. After the new detainee made his decision to join certain group, the inmate in charge of room assignment would bring him to see the warden, the warden would then allow him to write letters to his family asking them to pay the warden fees. Through the detainee’s address and phone number, the warden will communicate directly with the detainee’s family to get his money. Usually an executive warden would supervise four-chamber cell numbered from 100 to 120 defendants. Each month the warden could earn from 45 to 60 millions dong, this is the estimate for the 2007 time period.

4/ Attitude and treatment of warden toward the detainees:

Temporary detainees are not considered guilty and should not be deprived of their civil rights. They are separated from society for the sake of the investigation. But those who manage them are always looking for ways to degrade their dignity. Most of the detainees are to call the warden ‘teacher’ and refer to themselves as ‘son’ or ‘daughter’, although many of the detainees are in the same age bracket or older than the warden. When the detainees are called out to speak, they are not allowed to sit in chair, they have to sit on the floor while the warden sits in his chair. Those detainees who violate prison rules and are without visiting relatives may get beating.

Every time a new person got detained, if the warden said, "No one asks this person questions" s/he will not be beaten. If the warden doesn’t say anything, then that night when he is taken into custody, the new person would be taught "the law" by the old inmates, the inmate in charge of the new chamber will tell him about "three No’s: no see, no hear, no tell," when someone ask about the violations taking place in detention. Then depending on the new detainee’ attitude, he will either be kicked in the chest or slap in both ears. Approximately 90% of those taken into custody for the first time got beaten thus.

Form of discipline for those who violate the rules of detention camps:

Those who violate the rules of detention camps would be held in a cramped closet, shackled for 7 days, 24/24 hours. They eat and carry out their bodily functions in place, can’t brush their teeth or wash their face daily, no bathing and no changing clothes.

5/ Inspection and monitoring:

Each year, agencies such as the Procuracy, the Police Inspector of the Security sectors regularly organize delegations to visit detention centers for inspection and monitoring arrests and detention conditions. But these inspection and monitoring visits are only perfunctory. All inspection and monitoring trips are announced in advance so the prison warden and those in charge would have time to prepare and shape up beforehand. Management and prison warden would ask the detainees to clean and ship-shape cell rooms, hiding all the banned items. The detainees would be selected, prepped and threatened before they meet the inspection team. So all the inspections and monitors would pass muster, getting good report and no offense.

6/ The supply and use of items prohibited in the detention center:

Under prison rules, the smoking of tobacco and water pipes, consumption of alcohol, beer, tea and the use of cash in the detention area are all prohibited. In fact, all inmates wishing to smoke tobacco or water pipe, drinking alcohol, beer, or even using drugs are also being satisfied. There are two sources of supply providing these stimulants to the detainees:

- The first source of supply is provided by the prison administration itself, the warden asks the detainee’s family to pay and he would buy cigarettes and other stimulants according to the needs of the detainee.

- The second source: there are police officers not involved in prison administration, who would facilitate cash transfer for the detainees. When the detainees see their family, the family is requested to contact the owner of the cafe in front of the detention center and ask them to transfer money to their loved ones. Café owner would take his $50,000 VND fee, then s/he (café owner) would hire the police from the detention center to bring money to the detainees, the detainees would receive only 60% of the amount that the family submitted, the police officers would get his 40% cut.The detainees use the money to buy tobacco at 20 times the price of the outside market going rate (to buy a tobacco package priced $10,000 dong outside, the detainee in detention has to pay $200,000 VND).

Also some of the detainees who wish to meet directly with their relatives must request and pay bribes of at least 2 millions dong to the camp supervisor (normally the detainees only meet his family by phone). Some detainees will give money to their supervising officers so they can see their family freely, then their relatives would give them small packages of drug, they would swallow them and thus transport the drug inside the detention camp. The user would consume part of the banned substance, and part they would sell to others at 20 times the going rate.

7/ The detainees’ effort to overcome difficulties:

The lives of the detainees in the Hanoi detention camp # 1 are brutally harsh. Yet they’d find ways to overcome these difficulties. The detention center do not allow the money to be deposited, so all the family provisions are cooked, prisons banned the use of fire and cooking in chamber confinement, but the detainees have to buy empty milk cans for $200 thousand dong, or beer cans for $100 thousand, and then use nylon bags as fuel to heat the food for the day, plus they also use nylon bags and beer cans to boil their drinking water. Periodically the police of the prison would make their rounds and confiscate all such items. The detainees have to take time and money to acquire these items again.

8/ Illness, diseases and medical care in prison:

The detainees often contracted three main diseases:

- First, skin lesions, caused by dirty water and damp, humid conditions in cramped quarters;

- Second, diarrhea, caused by eating spoiled food since there are no means to heat the food in detention.

- Third, detainees’ physical being become deteriorated which would bring about paralysis, caused by lack of adequate nourishment.

Every day there are health workers to visit people in detention center, but the medical staff just listen and provide medecines, and medicines produced by Vietnam are of low quality, many people have contracted more severe diseases and have to be taken to emergency hospital for treatment, and prolonged and inadequate treatment would affect the health of detainees. Many of the detainees whose economic conditions allow them to bribes prison management so they can receive proper treatment and medicine from family or taken to hospital when their conditions are still treatable and have not become acute.

9/ Corruption in the transfer of prisoners to the prison:

After the first instance or appellate hearings taking effect, ranging from 40 to 60 days, the detention center and prison management agency, under the Ministry of Public Security, will move those who have been sentenced into the prison to carry out the rest of their sentences. Detention in the Hanoi Detention Center #1 would hold some prisoners there who are sentenced to 3 years detention or less to do the kitchen work, farming, tend to livestock, and to carry out services in the detention center. Those prisoners who want to be kept back in detention center, their families have to pay bribes to prison administrators or staff an amount that ranges from 10 to 15 million depending on the location of their work. Those prisoners to be moved to prisons closer to home and doing light works, their families need to pay bribes of about 20 to 40 millions dong depending on the camp and the work they perform. Bribery is possible through the staff at the detention center or through relations with the prison management agency. The prisoners who have no bribes will be transferred to prisons far from their families and carry out the hard labor.

10/ Conclusion:

In Vietnam, the one-party political regime today is no longer consistent with economic development and societal progress. The mismatch of the political institution has created so many injustices in society, with the fundamental rights of the people continually deprived, those who are arrested, their dignity are being trampled. Corruption happens at all levels of society, outside as well as in prison.

What I and other people of Vietnam earnestly wish and call out to the international community is the need for them to act strongly and effectively to persuade and to pressure Vietnam’s communist government, forcing them to respect the importance of human rights provisions stipulated in the Constitution of Vietnam as well as in the Universal Declaration of Human Rights, The International Covenant on Civil and Political Rights.

Political changes in Vietnam will promote human rights and cause them to be honored. This not only brings joy and happiness to generations of Vietnam today and the Vietnam generation of tomorrow, but will facilitate Vietnam’s relation with the world’s civil societies.
Thank you for your time and patience in reading and understanding more of what has happened in the Hanoi Detention Center # 1.
If you have any further question please do not hesitate to contact me Nguyen Van Dai, email: godlovedai@gmail.com.


Thứ Tư, 30 tháng 3, 2011

Thư gửi kêu gọi ủng hộ tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ

Dear Sir/Madam,

I am Attorney Nguyen Van Dai, freshly released from jail in communist Vietnam after four years of incarceration following a trial where I was unjustly and falsely charged with crimes as defined in Article 88 of the Criminal Code of Vietnam.  This despite the fact that everything I did was legal in accordance with Article 69 of the Vietnamese Constitution of 1992 and quite in line with the stipulations of Article 19 of the International Covenant on Civil and Political Rights.

Although I was just recently allowed to rejoin my family and society, I feel sorry to have to witness the upcoming trial of Doctor of Laws Cu Huy Ha Vu, again on the basis of Article 88 of the Criminal Code of Vietnam, currently scheduled for 4 April 2011.  I have studied very carefully the indictments that the Hanoi Procuracy intends to charge Doctor Vu with, all the accompanying documents and evidence that they are adducing in order to convict the defendant Cu Huy Ha Vu are totally ungrounded.  These are all baseless as the contents of what Dr. Cu Huy Ha Vu has to say in his written articles or [international radio] interviews are all reflections of reality as has happened and is happening in Vietnam today. 

The fact that Dr. Vu calls for the abolition of Article 4 of the Vietnamese Constitution and asks for a pluralistic and multiparty regime is merely the urging of conscientious and responsible citizen.  Article 4 of the Vietnamese Constitution enshrines the right of the Vietnamese Communist Party to lead the nation whereas it should be equal before the law, not merely in the Constitution but also in other legal dispositions applicable to its case.  Whenever a Vietnamese citizen realizes that whatever disposition stipulated in the Constitution or the law of the land is no longer in sync with the economic, political, cultural and social development of the country, he has the right to ask for an amendment or even its abolition. 

Furthermore, in my view and in the view of very many lawyers and legal experts, Article 88 of the Criminal Code of Vietnam is unconstitutional and violates the stipulations of the International Covenant on Civil and Political Rights.  The fact that the Vietnamese authorities have tried and incarcerated dozens of patriotic Vietnamese citizens in recent years and are preparing to try Doctor of Laws Cu Huy Ha Vu next 4 April 2011 on the basis of Article 88 of the Criminal Code of Vietnam represents a gross violation of the Vietnamese Constitution, of the Universal Declaration of Human Rights, and of the International Covenant on Civil and Political Rights.

The Vietnamese authorities have chosen to disregard all appeals by international human rights organizations and the governments of a number of countries, to free political prisoners and Dr. Cu Huy Ha Vu.  This is an unacceptable act of defiance at a time when they wish to lead Vietnam onto the path to international integration and befriending other nations.

Vietnam has gone through many decades of war and the Vietnamese people have undergone uncounted and unimaginable sacrifices and losses.  Though peace and national independence have been restored for almost 40 years now, the basic rights and freedoms of the citizens are still being restricted and robbed as a matter of fact despite all the stipulations of the Vietnamese Constitution.  The values of peace and national independence and the price of so much sacrifice of past generations of Vietnamese have not yet visited on the current generations of Vietnamese, everything having been swindled and deceived by the Vietnamese communist authorities.

Such actions as the arrest, trial and incarceration of democracy activists who act in moderation represent criminal actions on the part of the Vietnamese communist authorities not only against the Vietnamese people but also crimes against human progressiveness.

I appeal to the governments of various nations, international human rights organizations, religious organizations around the world and the entire international community to use every means at their disposition, be it economical, political or diplomatic means, to demand that the Vietnamese authorities immediately and unconditionally free all democracy activists currently in jail in Vietnam.  Doctor of Laws Cu Huy Ha Vu also should be given his liberty right away and unconditionally.

I sincerely thank all of you for your concern and support.  May God bless you.

Sincerely yours,


NGUYEN VAN DAI
Attorney at Law

Dear Sir/Madam,

Tôi, luật sư Nguyễn Văn Đài, đã được phóng thích khỏi nhà tù của chế độ cộng sản sau bốn năm giam giữ theo điều 88 Bộ luật hình sự Việt Nam. Hiện tôi tiếp tục phải chịu án quản chế bốn năm tại nhà. Các phiên toà đã xử tôi rất bất công bởi những gì tôi làm đều phù với quyền con người đã được qui định tại điều 69 Hiến pháp Việt Nam, cũng như được qui định tại điều 19 công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị.

Nay khi vừa được trở về với gia đình và xã hội, tôi lại chuẩn bị chứng kiến việc chính quyền Việt Nam đưa tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ ra xét xử theo điều 88 Bộ luật hình sự vào ngày 4-4-2011. Tôi đã nghiên cứu rất kỹ bản cáo trạng mà Viện kiểm sát Hà Nội đưa ra để truy tố tiến sĩ Vũ, tất cả những tài liệu, chứng cứ mà họ đang sử dụng để cáo buộc tiến sĩ Vũ đều không có căn cứ, bởi những nội dung mà tiến sĩ Vũ nêu lên trong các bài viết, các cuộc phỏng vấn đều đúng với sự thật đã và đang xảy ra ở Việt Nam. Việc tiến sĩ Vũ đòi xoá bỏ điều 4 Hiến pháp, đòi đa nguyên, đa đảng là việc làm của một công dân có lương tâm và trách nhiệm với đất nước. Bất kỳ một công dân Việt Nam nào cũng có quyền và phải có trách nhiệm để làm việc này. Điều 4 Hiến pháp nói về quyền lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam cũng bình đẳng với các điều khác trong Hiến pháp. Khi công dân Việt Nam nhận thức rằng một điều được qui định trong Hiến pháp hay luật mà không còn phù hợp với sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của Việt Nam thì họ có quyền đòi hỏi sửa đổi hay xoá bỏ nó.
Đồng thời theo quan điểm của tôi và rất nhiều các luật sư, chuyên gia pháp luật thì điều 88 Bộ luật hình sự Việt Nam là một điều luật vi phạm Hiến pháp Việt Nam và công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị. Việc chính quyền Việt Nam đã xét xử và giam giữ hàng chục công dân Việt Nam yêu nước trong những năm qua và chuẩn bị xét xử tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ vào ngày 4-4-2011 theo điều 88 Bộ luật hình sự Việt Nam là sự trà đạp thô bạo Hiến pháp Việt Nam, Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền, công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị. Nhiều tổ chức Quốc tế bảo vệ nhân quyền, chính phủ một số nước đã kêu gọi trả tự do cho tiến sĩ Vũ và các tù nhân chính trị. Nếu chính phủ Việt Nam muốn lãnh đạo đất nước Việt Nam để hội nhập Quốc tế, và muốn làm bạn với các nước thì chính phủ Việt Nam phải đáp ứng lời kêu gọi này.
Đất nước Việt Nam đã trải qua nhiều thập kỷ chiến tranh, nhân dân phải chịu biết bao hy sinh, mất mát. Hoà bình, độc lập dân tộc được gần 40 năm những các quyền chính trị cơ bản của người dân vẫn bị hạn chế và tước đoạt trên thực tế mặc dù Hiến pháp có qui định. Giá trị của hoà bình, độc lập dân tộc và biết bao sự hy sinh của các thế hệ người Việt Nam trước kia đã không được dành cho các thế hệ ngày hôm nay. Tất cả đã bị đảng cộng sản Việt Nam đánh cắp và lừa dối.
Những hành động bắt giữ, xét xử và giam cầm những người đấu tranh dân chủ một cách ôn hoà của chính quyền cộng sản Việt Nam là một hành động không chỉ chống lại nhân dân Việt Nam mà còn chống lại nhân loại tíên bộ trên toàn thế giới.
Tôi kêu gọi chính phủ các nước, các tổ chức Quốc tế bảo vệ nhân quyền, các tổ chức tôn giáo và toàn thể cộng đồng Quốc tế hãy sử dụng các biện pháp kinh tế,chính trị, ngoại giao để yêu cầu chính quyền cộng sản Việt Nam trả tự do ngay lập tức và không điều kiện cho những người đấu tranh dân chủ đang bị giam giữ. Trả tự do ngay lập tức và không điều kiện cho tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ.

Chân thành cảm ơn sự quan tâm và ủng hộ của các quí vị
Nguyện Chúa chúc phước cho tất cả.

Trân trọng,
Nguyễn Văn Đài.

Việt Nam cần tôn trọng Hiến pháp

Việt Nam cần tôn trọng Hiến pháp (?)
Phỏng vấn Luật sư nhân quyền Nguyễn Văn Ðài

Intro:    Giới hữu trách Việt Nam đang chuẩn bị ráo riết cho cuộc bầu cử quốc hội vào tháng 5, và theo dự kiến, sửa đổi hiến pháp là một trong những công tác quan trọng hàng đầu của quốc hội khóa mới. Trong khi đó, một nhân vật bất đồng chính kiến Việt Nam, Luật sư Nguyễn Văn Ðài nói rằng ông đã phải ngồi tù một cách oan uổng trong 4 năm qua bởi vì tất cả những hành động của ông mà nhà chức trách đã dùng để kết án ông đều hoàn toàn phù hợp với các qui định trong luật cơ bản của Việt Nam hiện nay. Ban Việt Ngữ VOA đã tiếp xúc với luật sư Ðài để tìm hiểu thêm về vấn đề này và những ý kiến của ông liên quan tới vấn đề sửa đổi hiến pháp. Xin mời quí thính giả theo dõi cuộc phỏng vấn do Duy Ái thực hiện sau đây:

VOA: Thưa luật sư, trong những cuộc phỏng vấn của báo đài nước ngoài trong những ngày vừa qua sau khi ông được thả khỏi nhà giam, ông nhất mực nói rằng ông không có tội vì những gì ông làm là phù hợp với hiến pháp. Xin ông giải thích thêm về việc này.

Nguyễn Văn Ðài: Cá nhân tôi cũng như đại đa số nhân dân Việt Nam, trong đó có rất nhiều người là đảng viên đảng cộng sản đều hiểu và nhận thức rằng thể chế chính trị độc đảng hiện nay không còn phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và hội nhập toàn diện của Việt Nam với cộng đồng quốc tế. Sự không phù hợp của thể chế chính trị độc đảng đã gây ra những hệ luỵ nghiêm trong cho đất nước và nhân dân như: tham nhũng đã trở thành quốc nạn, là giặc nội xâm của dân tộc; đạo đức, lối sống bị suy đồi, tệ nạn xã hội ngày một gia tăng; môi trường ô nhiễm, rừng bị tàn phá; qui hoạch và kiến trúc đô thi thiếu cái tâm và tầm nhìn dẫn đến ách tắc giao thông nghiêm trọng ở các thành phố lớn, bộ mặt kiến trúc đô thị méo mó; hàng hoá tiêu dùng, thực phẩm kém chất lượng nhập lậu không được kiểm soát đã ảnh hưởng đến sức khỏe của các thế hệ người Việt Nam ngày hôm nay và các thế hệ sau này, quản lý kinh tế yếu kém dẫn đến những thiệt hại to lớn cho nền kinh tế như vụ Vinashin, chính sách ngoại giao không phù hợp làm cho chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đang bị đe doạ nghiêm trọng…., còn có quá nhiều những sai lầm và yếu kém mà chính đảng cộng sản đã thừa nhận trong các kỳ hội nghị trung ương gần đây và đại hội đại biểu toàn quốc của họ mà tôi không thể nêu lên hết trong một cuộc trả lời phỏng vấn ngắn như thế này. Tôi chưa từng thấy trên thế giới có một đảng cầm quyền nào có nhiều sai lầm và năng lực yếu kém như vậy.
Mọi công dân phải có trách nhiệm với thực trạng của đất nước. Do vậy tôi cùng với nhiều công dân khác sử dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí được qui định tại điều 69 Hiến Pháp Việt Nam năm 1992 và tại điều 19 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị(Việt Nam đã gia nhập ngày 24 tháng 9 năm 1982) để bày tỏ quan điểm của mình một cách công khai và ôn hòa, phê phán những chính sách đối nội và đối ngoại không phù hợp của đảng cộng sản, đòi hỏi đảng cộng sản phải dân chủ hoá xã hội, tôn trọng các quyền công dân đã được nghi nhận trong Hiến pháp và các Công ước quốc tế. Đó là những việc làm phù hợp với tinh thần của quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí đã được hiến định và Công ước quốc tế công nhận. Còn chính quyền sử dụng điều 88 bộ luật hình sự là một trong những điều luật vi hiến và vi phạm Công ước quốc tế để đàn áp và giam giữ tôi trong suốt 4 năm qua là một việc làm sai trái và bất công. Họ không những đã vi phạm các quyền con người đã được nghi nhận trong Hiến pháp Việt Nam mà còn vi phạm Công ước quốc về các quyền dân sự và chính trị. Việc làm trên của chính quyền đã gây ra sự bất bình của đông đảo người dân Việt Nam ở trong và ngoài nước. Việc làm trên của chính quyền Việt Nam cũng đã bị các tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế, chính phủ nhiều nước và cộng đồng quốc tế lên án mạnh mẽ. Tôi luôn luôn khẳng định rằng những việc làm của mình là phù hợp với Hiến pháp, phù hợp Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị. Đồng thời tôi cũng thể hiện lương tâm và trách nhiệm của mình với nhân dân và đất nước.

VOA: Trong thời gian trước khi bị bắt vào tù, nếu tôi nhớ không lầm, ông đã đôi lần nói tới việc nên quay lại với bản Hiến pháp 1946. Và trong thời gian gần đây, trên báo chí Việt Nam một số chuyên gia luật học và quan chức chính phủ cũng đã lên tiếng đề cao giá trị của bản hiến pháp này. Xin ông cho biết những đặc điểm của Hiến pháp 46, và theo ông, việc sửa đổi hiến pháp mà giới hữu trách Việt Nam dự định tiến hành trong thời gian tới đây nên được thực hiện như thế nào và sau khi sửa đổi có nên tổ chức trưng cầu dân ý không?

Nguyễn Văn Ðài: Trước tiên tôi đề cập những đặc điểm của Hiến pháp 1946. Tôi cũng có cùng quan điểm với một số chuyên gia luật học và quan chức chính phủ là đánh giá rất cao giá trị của bản Hiến pháp 1946. Ở đây chúng ta không đủ thời gian để nêu lên hết mọi ưu điểm của Hiến pháp 1946. Tôi chỉ muốn nêu lên một số ưu điểm nổi bật của Hiến pháp 1946 về các quyền công dân được qui định trong chương II. Tại điều 6 qui định: “Tất mọi công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hoá”. Điều này có nghĩa là mọi công dân Việt Nam đều bình đẳng và ngang quyền nhau khi tham gia hay thành lập các tổ chức, đảng phái chính trị. Không cho phép một nhóm công dân nào được đặc quyền về chính trị, đặc quyền thành lập một đảng chính trị duy nhất.
Trong các điều qui định về quyền công dân không có cụm từ: “ theo qui định của pháp luật” như trong các bản Hiến pháp được sửa đổi sau này. Điều này có nghĩa là các quyền công dân là quyền đương nhiên và trực tiếp do Hiến định, không phải là sự ban cho hay bố thí của đảng cầm quyền. Vì vậy các văn bản luật dưới Hiến pháp không được hạn chế hay tước bỏ các quyền đã được Hiến pháp qui định. Tất cả các điều luật hay bất cứ một văn bản pháp luật nào được làm ra sau Hiến pháp mà hạn chế quyền công dân đều vi hiến.
Điều 20 qui định nhân dân có quyền bãi miễn các đại biểu mình đã bầu ra. Điều này thể hiện quyền lực, quyền làm chủ của nhân dân khi mà đại biểu do nhân dân bầu ra không còn được nhân dân tín nhiệm, đại biểu không làm được những điều mà họ đã hứa với nhân dân khi ra ứng cử thì nhân dân có quyền bãi miễn họ.
Điều 21 qui định nhân dân có quyền quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc có quan hệ đến vận mệnh quốc gia tức là mọi sửa đổi và bổ sung Hiến pháp mà nhân dân chưa phúc quyết thì những sửa đổi và bổ sung ấy không có giá trị. Đây là những qui định thể hiện quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân để quyết định những vấn đề quan trọng nhất của quốc gia trong đó nhân dân có quyền quyết định về chế độ chính trị. Thật đáng tiếc là việc sửa đổi các bản Hiến pháp sau này không những đã không tôn trọng quyền phúc quyết của nhân dân mà còn tước bỏ quyền này.
Một ưu điểm nổi bật của Hiến pháp 1946 là phi đảng phái chính trị, Hiến pháp 1946 không qui định đặc quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội cho một đảng phái hay tổ chức chính trị nào. Điều này thể hiện quyền bình đẳng về chính trị và mọi công dân đều có quyền và cơ hội ngang nhau để tham gia chính quyền (qui định tại điều 6 và 7) khi họ có đủ tài năng, đức hạnh có mong muốn được cống hiến phụng sự Tổ quốc và nhân dân.
Tóm lại theo quan điểm của cá nhân tôi thì Hiến pháp 1946 là một bản Hiến pháp dân chủ và tiến bộ hơn tất cả các bản Hiến pháp đã được sửa đổi và bổ sung sau này, thậm chí nó có giá trị ngang tầm với các bản Hiến pháp của các nước dân chủ,văn minh trên thế giới.

Thứ hai là tôi đề cập đến vấn đề sửa đổi Hiến pháp: Hiến pháp 1946 là bản Hiến pháp đầu tiên khai sinh ra nước Việt nam dân chủ Cộng hoà. Tại điều 70 qui định như sau:
“Điều 70 Sửa đổi Hiến pháp phải theo cách thức sau đây:
a) Do hai phần ba tổng số nghị viên yêu cầu.
b) Nghị viện bầu ra một ban dự thảo những điều thay đổi.
c) Những điều thay đổi khi đã được Nghị viện ưng chuẩn thì phải được đưa ra toàn dân phúc quyết.”
Trong những lần sửa đổi Hiến pháp vào các năm 1959, 1980 và 1992 đều không được thông qua sự phúc quyết của toàn dân. Như vậy việc sửa đổi nói trên đều vi phạm vào điểm c điều 70 Hiến pháp 1946 và như thế các bản Hiến pháp này không có giá trị.
Theo quan điểm của tôi thì việc tiến hành sửa đổi Hiến pháp phải gắn liền với tiến trình dân chủ hoá xã hội tức là một uỷ ban sửa đổi Hiến pháp được thành lập phải có sự tham gia của các chuyên gia pháp lý và đại diện của các đảng phái, tổ chức chính trị, tôn giáo. Sau khi uỷ ban sửa đổi Hiến pháp được thành lập thì uỷ ban này phải đề nghị quốc hội hiện hành ra một nghị quyết chấm dứt hiệu lực của Hiến pháp 1992 và lấy Hiến pháp 1946 làm cơ sở cho việc sửa đổi, bổ sung. Sau khi hoàn tất việc sửa, đổi sung thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết. Tôi mong rằng chúng ta sẽ có một cuộc trao đổi khác về nội dung cần có của một bản Hiến pháp mới.

VOA:   Trung tuần tháng 2 vừa qua, tờ Tuần Việt Nam cho đăng một bài viết về hiến pháp được nhiều người chú tâm bàn luận – đó    bài “Những ngộ nhận về hiến pháp” của Tiến sĩ Nguyễn Sỹ Phương. Ông có nhận xét hay bình luận gì về bài viết này?

Nguyễn Văn Ðài: Tôi rất thích bài viết của tiến sĩ Nguyễn Sĩ Phương, ông đã nêu lên và phân tích những bất cập trong suy nghĩ và nhận thức của chính quyền về việc sửa đổi Hiến pháp. Ông  cũng nêu những vấn đề không còn phù hợp của Hiến pháp 1992 và đó là những vấn đề cần phải sửa đổi. Cuối bài viết ông có nêu lên việc thành lập một toà án Hiến pháp độc lập là đòi hỏi bức bách và ông cho rằng có toà án Hiến pháp độc lập sẽ có tranh luận và như vậy sẽ có những sửa đổi có ý nghĩa. Tôi đồng ý rằng cần phải có một toà án Hiến pháp độc lập, nhưng toà án Hiến pháp này không thể hoạt động độc lập trong một thể chế chính trị độc đảng. Do vậy việc sửa đổi Hiến pháp để đáp ứng nguyện vọng và đòi hỏi dân chủ của người dân sẽ không đạt được. Có một điều mà tôi tin là tiến sĩ Nguyễn Sĩ Phương cũng như đại đa số người Việt Nam đều hiểu mà chưa dám nói ra đó là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến những bất cập trong việc sửa đổi Hiến pháp cũng như trong bản Hiến pháp 1992 có quá nhiều các qui định không phù hợp đó là do thể chế chính trị độc đảng không còn phù hợp. Tôi cho rằng đảng cộng sản Việt Nam nên rút kinh nghiệm từ sự sụp đổ của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa đông Âu trước đây và những gì đã và đang diễn ra ở các nước Bắc phi và Trung đông hiện nay tức là họ phải tôn trọng các quyền con người đã được nghi nhận trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị mà họ đã ký kết và cam kết thực hiện. Và họ nên lắng nghe và tôn trọng những nguyện vọng và đòi hỏi dân chủ của nhân dân, chủ động thực hiện dân chủ hoá xã hội trước khi quá muộn.

VOA: Chân thành cám ơn Luật sư Nguyễn Văn Ðài đã dành thời giờ cho chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn này. Cầu chúc ông mọi sự tốt đẹp và mong sẽ có dịp được phỏng vấn ông trong tương lai gần đây.