Thứ Năm, 25 tháng 6, 2015

TPP và nhân quyền, dân chủ cho Việt Nam.


Cuối cùng thì lưỡng viện Quốc hội Hoa Kỳ đều đã bỏ phiếu thông TPA với một phiên bản mới, không gắn với TAA để mở đường cho chính quyền Obama được quyền đàm phán nhanh về TPP. Dự luật này sẽ được Tổng thống Obama nhanh chóng phê chuẩn.

Để có thể kết thúc đàm phán TPP với Hoa Kỳ, đây là thời điểm bắt đầu để chính quyền CSVN thực thi các yêu cầu, điều kiện của Hoa Kỳ về nhân quyền, cải cách luật pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền, cho phép công nhân thành lập công đoàn độc lập,…

TPP có phải là phép màu để cải thiện triệt để tình trạng nhân quyền và thúc đầy một tiến trình dân chủ cho Việt Nam?

Theo quan điểm của tôi thì chắc chắn là không. 

Sức ép về chính trị, ngoại giao, kinh tế,… từ bên ngoài không bao giờ làm thay đổi bản chất toàn trị của chế độ cộng sản. Khi gặp những khó khăn về kinh tế, tranh chấp lãnh thổ,…, chính quyền CS có thể nhượng bộ, chấp nhận một số thay đổi và cởi mở về không gian chính trị trước những áp lực từ quốc tế. Với mục đích để họ vượt qua những khó khăn đó, nhưng bản chất toàn trị thì không thay đổi.

Sự chuyển đổi một cách hòa bình từ độc tài sang dân chủ phải đến từ áp lực trong nước! Vậy TPP sẽ giúp cải thiện những gì về nhân quyền, dân chủ?

Thứ nhất, các tù nhân lương tâm sẽ lần lượt được phóng thích trước thời hạn. Các điều luật mơ hồ trong Bộ luật Hình sự như 79, 87, 88, 258,… sẽ được sửa đổi hoặc hủy bỏ. Các bộ luật liên quan đến quyền chính trị của công dân như luật biểu tình, luật về hội, luật tiếp cận thông tin,… sẽ sớm được ban hành.

Thứ hai, việc Việt Nam được vào TPP theo những điều kiện của Hoa Kỳ sẽ giúp cho không gian chính trị trong nước được mở rộng và cởi mở hơn. Các tổ chức XHDS, tổ chức chính trị, đảng phái chính trị và những người hoạt động nhân quyền độc lập sẽ an toàn hơn, có không gian mở để hoạt động.

Và đây là thời cơ cho các tổ chức XHDS, các tổ chức chính trị, đảng phái chính trị đã được thành lập trong những năm qua được củng cố và phát triển. Tức là các tổ chức XHDS, chính trị phải tranh thủ được khoảng thời gian vàng này để vận động các nguồn lực tài chính, nhân sự cho sự phát triển và mở rộng. Khi các tổ chức XHDS, chính trị trong nước đứng vững, có sức mạnh thì có thể tự mình giải quyết vấn đề nhân quyền và dân chủ của Việt Nam.

TPP cùng với không gian chính trị mở rộng do nó tạo ra cũng trao cơ hội cho các tổ chức chính trị, đảng phái chính trị mới được thành lập.

Đã tới lúc các từng lớp nhân sĩ, tri thức trẻ đã được đào tạo bản ở trong nước và nước ngoài vượt qua sự e dè, sợ hãi. Hãy cùng nhau tham gia các tổ chức, đảng phái chính trị đã có hoặc liên kết với nhau để thành lập các tổ chức, đảng phái chính trị mới. Với sự tham gia chính trị của nhân sĩ, trí thức trẻ, các tổ chức, đảng chính trị mới sẽ nhanh chóng thu hút được sự tham gia và ủng hộ của các từng lớp Nhân dân, đặc biệt là các bạn trẻ. Điều này sẽ làm thay đổi nhanh chóng sự tương quan lực lượng giữa một bên là đảng CS già nua, bảo thủ, đã đánh mất niềm tin của Nhân dân và một bên là các tổ chức, đảng phái chính trị mới trẻ trung, năng động, sáng tạo. Buộc đảng CS phải tiến hành đối thoại để xây dựng một lộ trình dân chủ cho Việt Nam.

Đấu tranh bảo vệ nhân quyền, chống lại bất công và vận động xây dựng xã hội dân chủ là quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm và lương tâm của mỗi người Việt Nam. Đã đến lúc mọi người Việt Nam, đặc biệt là các bạn trẻ, tri thức cần phải từ bỏ thái độ thờ ơ của mình đối với chính trị. Bởi có một người đã nói: “Nếu mọi người đều thờ ơ với chính trị, thì quí vị đã, đang và sẽ tiếp tục bị cai trị bởi những kẻ ngu, dốt hơn mình.”

Thực tiễn ở các quốc gia đã từng được chuyển đổi từ các chế độ độc tài, độc đảng sang dân chủ cho thấy: Nhân quyền, dân chủ không bao giờ là món quà miễn phí. Để dành được nó, biết bao thế hệ đã phải vất vả đấu tranh, chịu nhiều sự hy sinh bằng những năm tháng trong lao tù, chịu sự sách nhiễu, bách hại bằng những trận đòn, máu, thương tích đầy mình.

Sau những nỗ lực đấu tranh của biết bao nhiêu những người hoạt động nhân quyền, dân chủ trong một thập kỷ qua. Những sức ép từ cộng đồng quốc tế và nhu cầu hội nhập. Giờ đây, không gian chính trị tại Việt Nam đã được mở rộng và an toàn hơn bao giờ hết. Nếu chúng ta bỏ lỡ vận hội này, chúng ta sẽ có lỗi với chính mình, có lỗi với các thế hệ hôm nay và mai sau.

Tương lai tươi sáng của đất nước, của dân tộc nằm ở trong tay của mỗi chúng ta.

Hà nội, ngày 25 tháng 6 năm 2015

Luật sư Nguyễn Văn Đài

Thứ Hai, 22 tháng 6, 2015

Trần Trung Đạo: Nguyễn Xuân Phước, cánh hạc vừa bay

Luật sư Nguyễn Xuân Phước
Mặt hồ Irving buổi trưa im vắng chợt nghe như có tiếng chim bay. Vâng, cánh hạc Nguyễn Xuân Phước vừa từ giã chúng ta hôm nay 22 tháng 6, 2015.

Nguyễn Xuân Phước, người cha thân yêu của Rebecca Bội Anh và Matthew Mạnh Tường Nguyễn, luật sư, nhà tranh đấu cho nhân quyền và người bạn thân thiết của rất nhiều người Việt trong nước cũng như  đang sống khắp năm châu vừa qua đời sau hơn một năm chiến đấu với căn bệnh ung thư máu ngặt nghèo.

Nguyễn Xuân Phước sinh ngày 26 tháng 1, 1954 tại Khánh Bình, một làng nhỏ rất đẹp nằm bên bờ sông Thu Bồn, thuộc quận Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam, Việt Nam.

Anh sinh ra và lớn lên trong gia đình kính Chúa và có niềm tin sâu xa vào ân điển cứu độ của Chúa Cứu Thế. Thân phụ anh, Cố Mục sư Nguyễn Xuân Ba, là một trong những Mục sư đầu tiên của đạo Tin Lành tại Việt Nam. Các anh của anh cũng đều là Mục sư, gồm có Mục Sư Nguyễn Xuân Hồng, cố Mục sư Nguyễn Xuân Hà, Mục sư Nguyễn Xuân Đức, Mục sư Nguyễn Xuân Bình và Mục sư Nguyễn Xuân Sơn.

Nguyễn Xuân Phước  tốt nghiệp Trung Học Petrus Ký niên khóa 1972 và du học tại Hoa Kỳ trong cùng năm. Anh được UC Berkeley nhận và tốt nghiệp Cử nhân Kinh Tế tại đại học danh tiếng này vào năm 1978.  Sau một thời gian làm việc tại Đông Nam Á, anh trở lại Mỹ để học Luật tại Rutgers University và tốt nghiệp Tiến Sĩ Luật Khoa (Doctor of Jurisprudence) năm 1996. Đầu năm 1997, anh mở văn phòng luật sư tại Dallas.

Ngoài khả năng chuyên môn, Nguyễn Xuân Phước dành thời gian và công sức để đóng góp vào các đề án nhân quyền dân chủ cho Việt Nam. Anh tích cực yểm trợ cho phong trào “kết nghĩa dân chủ” và các “Ủy Ban Yểm Trợ Dân Chủ Quốc Nội” tại hải ngoại. Anh góp phần sáng lập nhiều tờ báo và cố vấn luật pháp cho nhiều đoàn thể tại Dallas. Anh là cây bút  thường xuyên về các vấn đề luật pháp cho các báo tại Dallas, giải đáp các thắc mắc về luật pháp cũng như tham gia Diễn Đàn Văn Hóa Lịch Sử trên đài phát thanh.

Trong quan hệ quốc tế, Nguyễn Xuân Phước và các bạn anh đã đi nhiều nơi tại châu Âu như Tiệp Khắc, Ba Lan, Hungary để học hỏi kinh nghiệm phục hưng đất nước sau CS. Tại Á Châu, anh đến Miến Điện, Thái Lan, Nam Hàn, Philippines, Singapore. Tại Nam Hàn, anh đã làm việc với các thành viên của lãnh tụ đối lập Kim Dae-jung, người sau đó trở thành Tổng thống Đại Hàn nhiệm kỳ 1998-2003.  Riêng tại Miến Điện, anh đã tìm cách liên lạc các thành phần dân chủ thuộc đảng Liên minh Dân tộc Dân chủ (National League for Democracy) đối lập của bà Aung San Suu kyi khi bà còn bị tù. Sau khi bà Aung San Suu kyi  được tự do,  năm 2013, Nguyễn Xuân Phước đã trở lại Miến Điện lần nữa trong nỗ lực vận động dân chủ cho Đông Nam Á trong  đó có Việt Nam.

Từ 2005 trở về sau, Nguyễn Xuân Phước đã đệ trình hàng loạt danh sách tù nhân lương tâm đang bị CS giam giữ tại Việt Nam lên Ủy Ban Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc.

Trong lãnh vực tin học, mặc dù không phải là chuyên viên điện toán, anh đã tự học các phương pháp xây dựng trang mạng  khi kỹ thuật Mạng lưới Toàn cầu hình thành vào cuối thập niên 1990. Nguyễn Xuân Phước cũng là một trong những người đầu tiên mở rộng chiến dịch vận động chữ ký qua phương pháp Internet.  

Trong quan điểm chính trị, Nguyễn Xuân Phước có một lập trường Quốc Gia Dân Tộc và Dân Chủ ôn hòa nhưng dứt khoát. Trong tiểu luận xuất sắc viết nhân dịp 30-4 2004, anh khẳng định:

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã biến đất nước thành một nhà tù vĩ đại. Hơn 300.000 quân cán chính Việt Nam Cộng Hoà đã bị giam giữ vô hạn định. Đây là thảm hoạ lịch sử mà cái tàn ác của vua Gia Long khi ngài trả thù nhà Tây Sơn cũng không thể nào so sánh được. Và suốt lịch sử 5000 năm của dân tộc cũng không có một thời đại nào có cuộc trả thù khủng khiếp như thời kỳ Cộng Sản thống nhất đất nước… Cộng Sản là hiểm hoạ lớn nhất của loài người từ trước đến nay” và  anh khẳng định chỉ có “tính hợp pháp của nhà cầm quyền là điều kiện tiên quyết và là nhu cầu cấp bách để xây dựng một nền chính trị dân bản bền vững. Và nền chính trị dân bản bền vững là nền tảng để mở ra thời đại phục hưng dân tộc, làm bệ phóng cho giai đoạn cất cánh về kinh tế toàn dân và để bảo đảm sự toàn vẹn lãnh thổ.”

Về tương lai dân tộc, Nguyễn Xuân Phước ôm ấp một “Giấc Mơ Việt Nam”:

Mỗi lần đến ngày 30 tháng Tư là một cơ hội để chúng ta suy nghĩ về những thất bại lịch sử và để mơ đến “Giấc Mơ Việt Nam”. Để từ những nơi xa xôi trên trái đất đến những trung tâm vận động phục hưng dân tộc ngay tại trong nước, mọi người Việt đều phải cùng nhau chia sẻ một viễn tượng về sinh mệnh dân tộc và hướng đi tới của đất nước. Từ đống tro tàn của lịch sử, những con phượng hoàng sẽ cùng nhau cất cánh. Từ đó, mọi người Việt sẽ cùng nhau tái tạo một nước Đại Việt mới, một tổ quốc Đại Việt của thời đại 2000 với không gian Việt trải dài khắp nơi trên thế giới, một tổ quốc của mọi người mang dòng máu và văn hoá Việt không phân biệt chính kiến, tôn giáo hay bất cứ một quá khứ chính trị nào.

Nguyễn Xuân Phước yêu nước Việt và yêu lịch sử dân tộc Việt. Anh không những dành nhiều thời gian để học sử, viết về lịch sử Việt Nam mà còn sống với các sự kiện lịch sử. Khoảng đầu năm 2000, xúc động khi được đọc về hành trình tỵ nạn của Hoàng Tử Lý Long Tường, anh đã đến tận Nam Hàn để thăm hỏi ông Lý Xương Căn, trưởng tộc của họ Lý tại Nam Hàn. Buổi gặp gỡ gia đình họ Lý đã củng cố niềm tin trong anh về Việt Tính như anh nhắc lại sau đó:

Điều tôi biết chắc chắn là qua câu chuyện của dòng họ hoàng tử Lý Long Tường, chúng ta thấy rằng, Việt tính vẫn tồn tại qua không gian và thời gian. Và tôi tin rằng một ngày không xa, tinh thần Việt ấy sẽ được phục hưng trên đất nước chúng ta. Ngày ấy tổ quốc Đại Việt sẽ hồi sinh. Ngày ấy Thăng Long và Sài Gòn sẽ phải được trả lại cho dân tộc và lịch sử. Và tôi tin rằng ngày ấy sẽ không có một đảng phái, một tôn giáo nào, một cá nhân nào chiến thắng, mà chỉ có dân tộc Việt là kẻ chiến thắng”.

Truyền thống văn hóa, các bài học lịch sử và khí tiết của các anh hùng dân tộc như Nguyễn Trãi, Đặng Dung luôn là niềm thôi thúc để anh nghiên cứu và sáng tác. Anh viết không nhiều nhưng những tiểu luận văn hóa, chính trị, lịch sử của anh cho chúng ta thấy niềm tin vào lịch sử dân tộc của anh vô cùng sâu đậm. Dưới đây là 10 tiểu luận tiêu biểu của Nguyễn Xuân Phước đã được phổ biến rộng rãi trên internet:

-          Bách Việt trong lòng Đại Việt
-          Nhân ngày 30-4 xem lại bài học thống nhất đất nước
-          Từ Phan Liêu, Đặng Dung đến Nguyễn Trãi, tâm sự của một thế hệ.
-          Bàn về hai chữ văn minh
-          Bài học phục hưng dân tộc
-          Những nghịch lý lịch sử của thế kỷ 20 và hành trình đi tìm tính chính thống lịch sử ở thế kỷ 21
-          “Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại…”
-          Một số vấn đề pháp lý quanh hiệp định biên giới Việt-Trung.
-          Xét lại giá trị pháp lý và tính chính thống của Hiến Pháp Việt Nam hiện nay
-          Thân Thanh Triều nên mất nước.

Nick trên internet của Nguyễn Xuân Phước là Ngàn Cánh Hạc. Anh Đỗ Thành Công, bạn của Nguyễn Xuân Phước viết bài thơ Ngàn cánh hạc tặng anh và đọc cho anh nghe bên giường bệnh trong lần ghé thăm đầu tháng 5, 2015:

ngàn cánh hạc
chiều chưa tắt nắng
dậy mà nghe
Nguyễn Trãi bình Ngô

chí ta lớn
sao trời không thương
đường đoạn trường
thôi đưa nhau rồi

ly khách xa
buồn như muốn khóc
hôm qua trăng sáng
Đặng Dung ơi

ly khách đi
về đâu khách ơi
lòng ai thôi cũng
nát tơi bời

vỗ tay cho
hết đời nhân thế
chờ ta mà cạn
chén ly bôi.


Nguyễn Xuân Phước là một người khiêm cung, đơn giản. Ngoài một số bạn cùng chí hướng, ít ai nghe anh nói về mình. Đa số người quen chỉ biết một Nguyễn Xuân Phước hồn nhiên, vui tính và hiếu khách. Khi cần phải tự giới thiệu, anh thích khoe cách nấu phở rất ngon, cách làm bánh tét dân chủ  [Phước dự tính làm bánh tét bán để lấy tiền giúp cho thân nhân những đồng bào đang bị CS giam tù nên gọi là bánh tét dân chủ trong mỗi dịp Tết] rất nghề hơn là những đóng góp của anh cho tiến trình dân chủ Việt Nam về nhiều mặt, bao nhiêu công sức anh đã đổ ra, bao nhiêu nơi anh đã đến, bao nhiêu tháng năm anh đã miệt mài.
(Bánh tét do Nguyễn Xuân Phước gói và nấu)
Nguyễn Xuân Phước có tấm lòng luôn rộng mở. Căn nhà của anh bên bờ hồ Irving là địa điểm gặp gỡ giữa các nhà hoạt động, nhà văn, nhà thơ có khuynh hướng dân chủ có dịp ra nước ngoài, lãnh đạo các tổ chức, đoàn thể đấu tranh dân chủ tại hải ngoại và là địa điểm sinh hoạt thường xuyên của giới văn nghệ sĩ trong vùng cũng như từ khắp nơi, kể cả trong nước, khi đến viếng thăm thành phố Dallas. 

Anh là người yêu âm nhạc, văn, thơ, thích hát, thích đàn. Khi được yêu cầu, anh thường hát nhạc phẩm Giọt nước có biết mình là sông của Khúc Lan:
…..

Giọt nước có biết mình là sông, nhưng sông vẫn chảy
Ngọn cỏ có biết mình về nguồn, đâu lời khóc than
Giọt nước có biết mình là mây, mây sao chưa nổi
Giọt nước hóa kiếp mình vào đời, dù dặm trường xa xôi….

"Lời khóc than" hay những lời tiên tri dành cho số phận của một áng mây chưa kịp thành mưa tắm mát quê hương đã vội "hóa kiếp mình vào đời"  trên quê người, đất lạ.

Từ mái hiên của căn nhà không cao sang, rộng lớn nhưng đầy kỷ niệm của Nguyễn Xuân Phước, nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp đứng nhìn những giọt mưa nhỏ xuống mặt hồ. Cuộc đời của một người bạn nhỏ thân thương đang tan dần trước mắt anh như thế. Nhà thơ không nói ra nhưng trong lòng anh và trong lòng bạn hữu của Nguyễn Xuân Phước đều biết một cuộc chia tay sắp sửa xảy ra. Đêm đó nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp viết bài thơ Mưa Xám như một lời từ giã:
…….
mưa xám
giăng. giăng. qua đời tôi. đời bạn. và còn những ai nữa. hở em
như chiều qua
mưa xám lạnh mặt hồ. ngôi nhà ở irving. của nguyễn xuân phước
tôi ngồi nhìn
mặt trời
nói lời từ giã
adieu.

Vâng, cuộc đời vốn là những adieu, nhưng nếu còn nhớ Nguyễn Xuân Phước, xin hãy nhớ đến anh trong những lần hạnh ngộ.

Cố Tổng thống Abraham Lincoln có lần đã nói, đại ý “Cuối cùng, điều quan trọng không phải bạn đã sống được bao nhiêu năm mà  là ý nghĩa cuộc sống của bạn trong những năm tháng ấy”  (In the end, it’s not the years in your life that count. It’s the life in your years). Nguyễn Xuân Phước chỉ sống 61 năm nhưng 61 năm dâng hiến cho quê hương, đất nước. Anh đãsống nhiều hơn so với bao nhiêu người có tuổi tác cao hơn.

Cánh hạc Nguyễn Xuân Phước vừa bay nhưng sẽ không xa khuất bên kia bờ ước vọng mà như  vẫn còn đây soi bóng dưới mặt hồ Irving. Mai này, bạn bè anh có thể không còn dịp trở lại căn nhà đẹp đó nữa nhưng mùi phở thơm, tiếng đàn và giọng Quảng Nam của Phước nghêu ngao “Giọt nước có biết mình là sông nhưng sông vẫn chảy” sẽ còn vang vọng mỗi đêm. Tất cả còn đó và sẽ mãi mãi còn trong mỗi trái tim người.

Những người thân yêu của Nguyễn Xuân Phước ơi, đừng khóc cho giờ chia tay hôm nay mà hãy cùng cười hồn nhiên và vui tính với anh. Xin dành những giọt nước mắt đó cho “ngày đoàn viên dân tộc, ngày hội lớn tự do dân chủ trên quê hương, ngày phục hưng của dòng giống Đại Việt anh hùng” mà Nguyễn Xuân Phước thân yêu của chúng ta hằng mơ ước.

Trần Trung Đạo
Boston, viết xong vào ngày Phước đi xa, 22 tháng 6, 2015

Luật sư Lê Công Định và tôi.

Cafe với Ls Lê Công Định và các anh em tại Sài Gòn ngày 9-6-2015
Sau gần 8 năm, tôi mới gặp lại luật sư Lê Công Định. Anh vẫn trẻ trung, năng động, hài hước và luôn toát lên ở anh là một người thông minh và lịch lãm.
Lần cuối, tôi gặp anh trong một hoàn cảnh mà tôi đang là bị cáo, còn anh là luật sư bảo vệ cho tôi trong phiên tòa phúc thẩm vào ngày 27 tháng 11 năm 2007.
Ls Định chuyên về lĩnh vực luật đầu tư và thương mại quốc tế, vì vậy để bảo vệ cho tôi, anh phải bỏ nhiều thời gian, công sức để nghiên cứu thêm về luật hình sự và tố tụng hình sự. Trong phiên tòa đó anh đã cùng với 4 đồng nghiệp nữa sử dụng luật Việt Nam, luật quốc tế, thông tin báo chí để bảo vệ cho Ls Lê Thị Công Nhân và tôi. Cuộc tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm và buổi sáng đã diễn ra gay gắt, đại diện VKS và hội đồng xét xử luôn bị các luật sư dồn cho đuối lý.
Đến đầu giờ chiều, là vị đại diện VKS phải tuyên bố là không tranh luận nữa và ông ấy đưa ra yêu cầu: “Nếu trong lời nói cuối cùng, hai bị cáo xin Tòa, thì đề nghị Tòa chuyển từ hình phạt tù sang hình phạt án treo.” Nhưng cả tôi và Ls Lê Thị Công Nhân đều không xin Tòa. Cuối cùng, chúng tôi mỗi người được giảm 1 năm tù.
Trước đó, luật sư Lê Công Định là một trong hai người có ảnh hưởng đến sự dấn thân của tôi vào các hoạt động tranh đấu cho dân chủ. Khi đọc các bài viết của anh được đăng tải trên BBC tiếng Việt, tôi đã thực sự cảm động và bị thôi thúc bước vào con đường tranh đấu. Đặc biệt là khi đọc bài “Trả lại hào khí diên hồng”.(đây là đường link: http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam/story/2006/03/060307_haokhi_dienhong.shtml ).
Khi gặp lại, chúng tôi đều rất vui mừng. Chúng tôi đều hiểu nhau và hiểu về những công việc mà cả hai đang làm. Khi cùng trao đổi về tình hình trong nước và quốc tế, chúng tôi đều cho rằng đã đến lúc các nhân sĩ, tri thức trẻ tuổi cần phải liên kết, hợp tác với nhau, cùng nhau đấu tranh, vận động cho một nước Việt Nam tự do và dân chủ.
Chúng tôi tin rằng, khi tuổi trẻ Việt Nam gạt bỏ sự sợ hãi, thể hiện lương tâm và trách nhiệm của mình với đất nước, dân tộc để tham gia vào chính trị. Thì một tương lai tươi sáng sẽ mở ra cho các thế hệ người Việt Nam hôm nay và cả mai sau.

Hãy liên kết  với chúng tôi! Hãy cùng chúng tôi hành động vì một nước Việt Nam tự do, dân chủ và thịnh vượng!


Thứ Bảy, 20 tháng 6, 2015

Chuyến đi thăm cựu tù nhân lương tâm người Ê Đê tại Đắc Lắc

Chu Mạnh Sơn, vợ của Y Kurr và Ls Nguyễn Văn Đài
Được sự giúp đỡ của Quĩ tù nhân lương tâm tại Úc châu, anh Chu Mạnh Sơn và tôi đã có chuyến đi thăm các cựu tù nhân lương tâm người Ê Đê và thân nhân của họ tại Đắc Lắc thành công.
Chuyến đi này đã được thông báo trước tới cơ quan an ninh, nên là chuyến đi công khai. Mặc dù vậy, khi đang ngồi trong phòng chờ lên máy bay tại Nội Bài, thì cũng có một nhân viên an ninh theo dõi cho tới khi tôi bước vào bên trong máy bay. Còn anh Chu Mạnh Sơn đi từ Sài Gòn lên Buôn Mê Thuật.
Khi xuống sân bay Buôn Mê Thuật, tôi đã thấy rất nhiều nhân viên an ninh địa phương đứng chờ bên ngoài, công an mặc sắc phục thì đang sắp xếp các chuyến xe taxi. Lát sau, khi tôi và anh Sơn gặp nhau. Anh Sơn kể lại lúc anh ra sân bay đón tôi, thì anh thấy xe an ninh Bộ CA, an ninh tỉnh rất nhiều ở khu vực sân bay, anh nghĩ là có đoàn khách quốc tế hay phái đoàn chính phủ tới thăm Buôn Mê Thuật. Điều này làm anh lo lắng là tôi sẽ không tới được.
Chúng tôi được người bạn đồng lao người Ê Đê là Senat Ksor đón và đưa về nhà của anh. Chúng tôi ngồi chơi, hỏi thăm sức khỏe, công việc của anh và gia đình. Uống ly café đặc sản của Tây nguyên do chính người nhà anh pha chế. Tránh làm phiền gia đình anh, chúng tôi ra quán ăn trưa và sau đo bắt đầu một hành trình dài đi thăm các cựu tù nhân lương tâm.
Chúng tôi bắt khởi hành từ khoảng 12.30 trưa cho tới hơn 7 giờ tối mới trở lại nhà Senat, trong một hành trình gần 200km. Trong chuyến đi, chúng tôi tới thăm 7 gia đình cựu tù nhân lương tâm người Ê Đê và 2 gia đình thân nhân của hai tù nhân đang bị giam giữ tại Thái Nguyên. Ba gia đình khác do đường xa và khó đi nên chúng tôi không tới được.
Hầu hết các cựu tù người Ê Đê đều từng phải chịu mức án trên dưới 10 năm tù. Trong thời gian họ còn ở trong tù, vợ con của họ phải chịu biết bao vất vả. Phần lớn các gia đình đều có con cái còn nhỏ, người vợ một mình phải làm lụng vất vả nuôi con ăn học, thỉnh thoảng phải tiết kiện để gửi chút quà cho chồng trong tù.
Sau khi người chồng mãn hạn tù trở về, cuộc sống của họ dần dần bớt khó khăn do có sự đóng góp công sức của người chồng. Tất cả các cựu tù đều phải chịu hình phạt quản chế 5 năm. Nên việc đi lại của họ gặp nhiều khó khăn. Thỉnh thoảng vẫn bị an ninh địa phương hỏi thăm, sách nhiễu.
Trong số các gia đình mà chúng tôi tới thăm, thì khó khăn nhất là gia đình của Y Kurr. Anh bị bắt năm 2004, và bị án sơ thẩm là 21 năm, phúc thẩm giảm xuống còn 17 năm. Trước đây bị giam ở nhà tù Nam Hà, từ năm 2012 thì bị chuyển tới nhà tù Phú Sơn, tỉnh Thái Nguyên. Từ khi anh bị bắt, một mình vợ anh phải vất vả nuôi con còn nhỏ, và nuôi bố mẹ. Bản thân chị cũng có nhiều bệnh tật, sức khỏe rất yếu.
Chỉ kể: thỉnh thoảng Y Kurr được gọi điện về nhà, anh xin chị gửi cho anh thuốc chữa bệnh, một chút thực phẩm là lá đu đủ phơi khô, cua đồng rang khô và nghiền nhỏ. Chị nói mấy tháng trước tiết kiệm được chút tiền định mua quà gửi cho anh thì người bố ốm nặng, phải đi viện nên hết tiền. Tháng vừa rồi cũng tiết kiệm được một chút thì bản thân chị lại phải đi viện. Bác sĩ nói chị phải mổ để cắt u sơ, nhưng chị không đủ tiền để tiến hành phẫu thuật. Mới hôm trước, Y Kurr lại gọi về nhắc chị gửi thuốc và thực phẩm cho anh. Chị kể cho anh nghe chuyện ốm đau của bố, con và bản thân mình. Chị chỉ thấy phía anh im lặng và tiếng thở dài thất vọng. Chị hiểu là anh tuyệt vọng lắm, đã không giúp được gì cho vợ con, gia đình mà còn làm phiền nữa. Nước mắt chị ứa ra, không biết nói sao để an ủi người chồng.
Chị nói tiếp là án của anh còn dài, hai vợ chồng sức khỏe đều đau yếu. Chẳng biết Chúa gọi họ về lúc nào. Đã gần 5 năm rồi chị chưa có cơ hội đi thăm anh. Chị nghĩ có lẽ hai vợ chồng khó có cơ hội gặp lại nhau trên đất này, có thể họ chỉ còn cơ hội gặp lại nhau trên thiên đàng.
Tôi hỏi chị mong ước điều gì? Chị trả lời trong nước mắt là mong được cùng người con đi thăm người chồng, người cha yêu quí của chị và con chị trước khi Chúa gọi chị về.
Chuyến đi Đắc Lắc của chúng tôi có thể nói là thành công. Khi chúng tôi đã chứng kiến trực tiếp cuộc sống của những người cựu tù nhân lương tâm, thân nhân của tù nhân lương tâm. Trong suốt chuyến đi, an ninh địa phương có đi theo chúng tôi, nhưng họ không cản trở. Sau khi chúng tôi rời khỏi các gia đình, thì an ninh địa phương có tới hỏi thăm, nhưng không có gì căng thẳng. Có thể nói đây là một tiến bộ vượt bậc so với năm 2012. Khi đó tôi, anh trai của anh Phùng Mai và một người cựu tù Ê Đê có giúp đỡ tài chính cho một số gia đình tù nhân lương tâm. An ninh Đắc Lắc đã biết và họ đã tiến hành sách nhiễu, đe dọa, khủng bố những người nhận giúp đỡ, người đi giúp đỡ trong một thời gian dài.
Trước khi kết thúc bài viết này, cho tôi thay mặt những gia đình cựu tù nhân lương tâm và thân nhân của họ được gửi những lời cảm ơn chân thành tới Quĩ tù nhân lương tâm, đồng bào Việt Nam hải ngoại đã giúp đỡ trước đó và chuyến đi vừa qua.
Chúng tôi mong muốn Quĩ tù nhân lương tâm và đồng bào hải ngoại tiếp tục giúp đỡ cho những người Ê Đê vẫn còn trong lao tù.

Hà nội, ngày 18 tháng 6 năm 2015

Luật sư Nguyễn Văn Đài

Luật sư Lê Quốc Quân và tôi

Luật sư Nguyễn Văn Đài, Ls Lê Quốc Quân, Michael Orona và Bs Phạm Hồng Sơn
Chỉ còn ít ngày nữa, luật sư Lê Quốc Quân sẽ mãn hạn bản án tù 30 tháng đầy bất công. Là đồng nghiệp, là bạn, cùng niềm tin vào Thiên Chúa, và tôi cũng đã trải qua 4 năm tù đày. Nên tôi hiểu luật sư Quân đang đếm ngược từng ngày để chờ giây phút đoàn tụ với gia đình. Tôi cầu mong anh sẽ trở về với gia đình trong sự bình an và hạnh phúc ngọt ngào. Tôi cũng mong sẽ được tiếp tục làm việc chung với anh trong công cuộc đấu tranh cho nhân quyền và vận động dân chủ cho Việt Nam.
Luật sư Lê Quốc Quân và tôi có những kỷ niệm đáng nhớ. Tôi biết đến tên của anh khi tôi đang ở Hoa Kỳ vào tháng 2 năm 2006. Lúc đó khoảng 3 giờ sáng ngày 22 tháng 2 năm 2006, tôi đang ngủ tại nhà ông Mục sư Đức ở quận Cam, thì nhận được điện thoại của anh bạn ở thành phố San Diego. Anh nói tôi hãy thức dậy để đọc bài báo đăng trên BBC tiếng Việt của một luật sư ở Việt Nam. Anh nói là anh đã khóc khi đọc bài báo này. Nghe vậy, tôi vô cùng ngạc nhiên đến tỉnh cả ngủ, vì tôi biết anh bạn tôi là người rất cứng rắn và nghị lực, không dễ gì để anh phải khóc. Tôi bật dậy, mở máy tính và tìm vào trang BBC tiếng Việt, tôi thấy ngay bài viết “Thư gửi ông Nguyễn Trung” và tác giả là luật sư Lê Quốc Quân.
Quả thật, bài báo có thể làm rung động trái tim của bất cứ người Việt Nam nào có tình yêu với đất nước.(đây là đường link: http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam/story/2006/02/060210_siphubacha_imlang.shtml ).
Ít ngày sau, tôi trở lại thăm anh bạn ở thành phố San Diego. Anh ấy mua một phong socola, và nhờ tôi mang về làm quà cho luật sư Lê Quốc Quân.
Đầu tháng 3 năm 2006, tôi trở về Việt Nam. Tôi phải gọi lên Đoàn Luật sư Hà Nội để xin số điện thoại và địa chỉ của luật sư Quân. Sau nhiều lần đặt hẹn, cuối cùng tôi đã hẹn được gặp luật sư Quân tại một quán café trên phố Lý Thường Kiệt vào một buổi chiều muộn.
Khi tới quán café, lúc đó rất vắng vì khoảng 6 giờ tối, tôi thấy một người đàn ông ngồi ở bàn trong một góc khuất. Tôi tiến tới hỏi có phải luật sư Quân, anh xác nhận. Chúng tôi bắt tay nhau, tôi chuyển luôn món quà của người bạn cho anh. Luật sư Quân nói luôn là anh đang bị an ninh theo dõi và bám sát, có thể bị bắt bất cứ lúc nào. Anh nói nhờ tôi bảo vệ cho anh trong trường hợp anh bị bắt, tôi đồng ý. Tôi cũng nói với anh là trong trường hợp mà tôi bị bắt thì anh cũng có trách nhiệm bảo vệ cho tôi. Chúng tôi trao đổi một chút rồi chia tay nhau. Tôi bước ra khỏi quán trước thì đã thấy một số an ninh lấp ló ở phía bên kia đường.
Sau đó chúng tôi không liên lạc với nhau cho tới khi luật sư Quân sang tới Hoa Kỳ để du học ngắn hạn. Ngày 6 tháng 3 năm 2007, tôi bị bắt và bị  khởi tố theo điều 88. Hơn một tháng sau thì kết thúc điều tra. Người điều tra viên hỏi tôi là thuê luật sư nào để bảo vệ? Tôi nhớ đến lời giao ước với luật sư Lê Quốc Quân nên tôi nói với điều tra viên là tôi chỉ thuê luật sư Lê Quốc Quân. Anh ta nói ngay là Quân đã bị an ninh Bộ công an bắt rồi, tội anh ta còn nặng hơn tội của anh, nghe nói là bị khởi tố theo điều 79. Tôi sững người khi nghe tin vậy. Tôi tự nhủ thế là cả hai đều bị bắt, chẳng ai bảo vệ được cho ai.
Ít lâu sau, tôi nghe tin anh đã được tự do sau 100 ngày tạm giam.
Sau khi tôi ra tù, thỉnh thoảng chúng tôi có dịp gặp nhau ở nhà thờ Thái Hà hay cùng tham gia gặp các phái đoàn quốc tế. Nhưng chưa có nhiều việc làm chung với nhau.
Lần này, khi anh trở về, tôi hy vọng chúng tôi sẽ có nhiều việc để làm chung vì mục tiêu đấu tranh bảo vệ nhân quyền và vận động dân chủ cho Việt Nam.
Cầu xin Thiên Chúa hãy chúc phước cho chúng tôi, cho đất nước và dân tộc Việt Nam.
(Ảnh chụp cùng với Ls Lê Quốc Quân, Bs Phạm Hồng Sơn và tùy viên chính trị ĐSQ Hoa Kỳ Michael Orona)

Hà nội, ngày 17 tháng 6 năm 2015

Luật sư Nguyễn Văn Đài

Thứ Bảy, 7 tháng 7, 2012

Liệu sẽ có quan hệ đồng minh Việt-Mỹ?


Liệu sẽ có quan hệ đồng minh Việt-Mỹ?

Cập nhật: 09:14 GMT - thứ bảy, 7 tháng 7, 2012
Hải quân Mỹ
Trong những ngày gần đây, căng thẳng trên khu vực biển Đông lại gia tăng.
Ngày 21 tháng 6, Bộ Dân chính Trung Quốc cho biết Quốc vụ viện nước này đã phê chuẩn việc thành lập thành phố Tam Sa bao gồm quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Và buổi sáng cùng ngày, Quốc hội Việt Nam thông qua luật Biển, trong đó khẳng định chủ quyền với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Ngay lập tức, ngày 23 tháng 6, Trung Quốc đã cho mời thầu quốc tế 9 lô thăm dò dầu khí trên khu vực thềm lục địa của Việt Nam. Đồng thời Trung Quốc đã cho bốn tàu hải giám tiến hành diễn tập ở khu vực quần đảo Trường Sa. Việt Nam đã điều tàu cảnh sát biển để ngăn chặn hành động xâm phạm chủ quyền này.
Ngày 4-7, báo Thanh Niên trích lại tin của tờ Liên Hợp của Đài Loan nói rằng Trung Quốc đã thành lập một lữ đoàn tên lửa mang số hiệu 827 đặt căn cứ tại thành phố thiều Quang, tỉnh Quảng Đông. Căn cứ này được trang bị tên lửa Đông Phong 16 có tầm bắn 1200km, trong khi khoảng cách từ Thiều Quang đến Hà Nội chỉ là 1000km.
Trung Quốc cũng tuyên bố thành lập thành phố Tam Sa và xây dựng bộ chỉ huy quân sự Tam Sa.
Tờ Tin báo Hong Kong đánh giá thêm rằng việc xuất hiện thông tin thành lập lữ đoàn 827 cùng những tuyên bố nói trên có ý nghĩa tương hỗ lẫn nhau, nằm trong âm mưu “đe dọa, giương oai” nhằm vào các bên có tranh chấp trên biển.
Bất kể một người Việt Nam nào còn một chút lương tâm và trách nhiệm với đất nước thì đều không khỏi lo lắng cho chủ quyền biển đảo của quốc gia, sinh mạng của ngư dân và của các chiến sĩ cảnh sát biển, hải quân đang bảo vệ lãnh hải.
Bên trong, giặc nội xâm là các tập đoàn tham nhũng, các nhóm lợi ích đang ngày đêm tàn phá đất nước. Chúng liên kết với nhau vơ vét của cải, tham nhũng tiền thuế của nhân dân, khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên, hủy hoại môi trường, hủy hoại và làm tha hóa chuẩn mực đạo đức xã hội…
Bên ngoài giặc bành trướng đang rình rập chờ cơ hội để xâm chiếm biển đảo của Tổ quốc.
Chiến tranh trên biển Đông có thể xảy ra bất cứ lúc nào. An ninh, chủ quyền quốc gia đang bị đe dọa nghiêm trọng. Trong khi đó, về quan hệ bang giao quốc tế, đảng Cộng sản không có đồng minh, có một vài nước đồng chí thì họ cũng là đồng chí của Trung Quốc.

Tại sao cần đồng minh?

Ở châu Âu, các cường quốc về kinh tế và quân sự như Anh, Đức, Pháp, Ý thì họ đều là đồng minh với nhau và là đồng minh với Hoa Kỳ. Các nước này không chỉ chia sẻ giúp đỡ nhau về kinh tế khi một thành viên nào đó gặp khó khăn.

"Chúng ta cùng nhìn ra thế giới thì thấy rằng hầu hết các cường quốc về kinh tế, quân sự trên thế giới đều là đồng minh hoặc là bạn bè, đối tác tin cậy của Hoa Kỳ. "
Mà điều quan trọng hơn họ cùng nhau chia sẻ những lợi ích về an ninh, cùng nhau hợp tác để duy trì hòa bình và giải quyết các xung đột trên thế giới vì lợi ích của cả khối và lợi ích chung của cả nhân loại.
Mối quan hệ đồng minh này tạo nên sức mạnh to lớn hơn rất nhiều so với sức mạnh của mỗi quốc gia riêng lẻ. Khi có mối đe dọa nhằm vào bất kỳ thành viên nào của khối, thì họ sẽ tập chung toàn bộ sức mạnh về kinh tế, quân sự để bảo vệ lẫn nhau.
Trong khu vực châu Á Thái Bình Dương, các cường quốc về kinh tế và quân sự như Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia. Họ đều xây dựng mối quan hệ đồng minh với Hoa Kỳ và là đối tác của nhau trong việc bảo vệ lợi ích chung. Cường quốc kinh tế và quân sự Ấn Độ cũng đang hướng đến xây dựng mối quan hệ đồng minh với Hoa Kỳ, Nhật Bản và Australia.
Trong cộng đồng Asean, Phillipines là đồng minh của Hoa Kỳ. Điều quan trọng nhất trong mối quan hệ đồng minh đó là khi một bên bị đe dọa, bị tấn công bằng quân sự, thì quốc gia đồng minh có trách sử dụng mọi tiềm lực quân sự để bảo vệ đồng minh của mình.
Điều này khác xa so với mối quan hệ bạn bè hay đối tác chiến lược. Khi một nước là bạn bè hay đối tác chiến lược bị tấn công quân sự thì nước kia cùng lắm thì họ cũng chỉ lên tiếng bênh vực về mặt ngoại giao.
Thực tế cho thấy là có nhiều nước đang là đối tác chiến lược của nhau những vẫn đang đe dọa lẫn nhau và sẵn sàng xung đột với nhau.
Rõ ràng việc các quốc gia có cùng lợi ích xây dựng mối quan hệ đồng minh với nhau là vô cùng cần thiết. Việc này sẽ làm cho sức mạnh của mỗi quốc gia thành viên được nhân lên trong việc bảo vệ lợi ích, chủ quyền quốc gia của mình.

Đồng minh để bảo vệ chủ quyền

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bên cạnh Tổng thống Barack Obama
Trong điều kiện của đất nước chúng ta, việc lựa chọn đối tác để xây dựng mối quan hệ đồng minh là hết sức cần thiết. Việc chúng ta xây dựng mối quan hệ đồng minh không phải nhằm mục đích để chống lại các quốc gia khác. Mà mục đích chỉ tăng cường sức mạnh của quốc gia nhằm bảo vệ chủ quyền và lợi ích của mình và của nước đồng minh.
Việt Nam muốn có được mối quan hệ láng giềng hữu nghị và bình đẳng với Trung Quốc đồng thời bảo vệ được chủ quyền và lợi ích của chúng ta ở biển Đông. Theo quan điểm của tôi, chúng ta phải dựa vào hai trụ cột trong quan hệ quốc tế:
Một là xây dựng mối quan hệ đồng minh với Hoa Kỳ, dựa vào đó mở rộng quan hệ đồng minh với Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia. Khi có quan hệ đồng minh với các nước trên, chúng ta sẽ mua được và nhận được sự giúp đỡ về trang thiết bị quân sự tiên tiến và hiện đại, sự hỗ trợ trong huấn luyện, cung cấp và trao đổi thông tin.
Có mối quan hệ đồng minh, chúng ta không chỉ hợp tác trong lĩnh vực quân sự, mà chúng ta sẽ có mối quan hệ chính trị, ngoại giao, kinh tế mạnh mẽ. Nhờ vào mối quan hệ đồng minh mà kinh tế, thương mại của chúng ta cũng sẽ phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng.
Hai là, dựa vào quan hệ đồng minh với các cường quốc nói trên. Chúng ta sẽ nâng cao được sức mạnh quân sự và có thể trở thành quốc gia lãnh đạo trong cộng đồng Asean trong lĩnh vực quân sự. Chúng ta sẽ cùng với các quốc gia có chung lợi ích trong Asean xây dựng mối quan hệ về quân sự gắn bó hơn. Từ đó có thể cùng nhau bảo vệ lợi ích chung trên biển Đông.
Như vậy dựa trên quan hệ đồng minh với Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia cùng với cộng đồng Asean, chúng ta sẽ nâng cao được tiềm lực quốc phòng và phát triển kinh tế. Nhờ đó chúng ta mới có thể duy trì được hòa bình và bảo đảm được quan hệ láng giềng hữu nghị với Trung Quốc.
Việt Nam có mất chủ quyền quốc gia khi có quan hệ đồng minh với các nước lớn?
Chắc chắn là không. Thực tế của các mối quan hệ đồng minh trên thế giới cho thấy rằng các nước đồng minh không bao giờ can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Chủ quyền quốc gia của các nước thành viên luôn được tôn trọng măc dù có quân đội của nước này đóng trên lãnh thổ của nước khác.
Tại sao Việt Nam phải chọn Hoa Kỳ để xây dựng mối quan hệ đồng minh?
Điều quan trọng đầu tiên mà chúng ta thấy được đó là cả Hoa Kỳ và Việt Nam đều có chung lợi ích với nhau trên biển Đông: Với Việt Nam là chủ quyền quốc gia và lợi ích kinh tế; với Hoa Kỳ là tự do hàng hải, lợi ích kinh tế và vai trò cường quốc trong khu vực. Hai nước không có bất kỳ tranh chấp hay mâu thuẫn nào trên khu vực này.
Điều quan trọng thứ hai là Hoa Kỳ thực sự mong muốn xây dựng mối quan hệ đồng minh với một nước Việt Nam dân chủ. Gần đây nhất là Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ đã tới thăm quân cảng Cam Ranh, và mong muốn quân cảng này cung cấp dịch vụ cho quân đội Hoa Kỳ.
Chúng ta cùng nhìn ra thế giới thì thấy rằng hầu hết các cường quốc về kinh tế, quân sự trên thế giới đều là đồng minh hoặc là bạn bè, đối tác tin cậy của Hoa Kỳ.

Trở ngại chính

Mỹ vẫn đòi hỏi Việt Nam cải thiện nhân quyền
Trong việc xây dựng quan hệ đồng minh với Hoa Kỳ thì vấn đề dân chủ và nhân quyền là trở ngại duy nhất.
Hiện nay chính quyền do đảng Cộng sản lãnh đạo đang giam giữ và cầm tù rất nhiều người hoạt động dân chủ và nhân quyền. Quyền thành lập báo chí tư nhân và quyền thành lập đảng phái, tổ chức chính trị chưa được chính quyền tôn trọng. Không chỉ riêng chính phủ Hoa Kỳ quan tâm đến vấn đề nhân quyền tại Việt Nam, mà chính phủ các nước trong EU, Australia, Canada, … cũng quan tâm và luôn kêu gọi chính phủ Việt Nam cải thiện nhân quyền.
Yêu cầu mà Hoa Kỳ đưa ra cho chính phủ Việt Nam để nâng cao mối quan hệ với Hoa Kỳ đó là chính phủ Việt Nam phải cải thiện tình trạng nhân quyền, tôn trọng các quyền chính trị của nhân dân.
Chủ quyền lãnh hải, lãnh thổ quốc gia đang bị đe dọa và đã bị xâm phạm nghiêm trọng.
Đứng trước thực tiễn đòi hỏi chúng ta cần phải xây dựng mối quan hệ đồng minh với Hoa Kỳ. Mỗi một công dân Việt Nam cần phải có lương tâm và trách nhiệm với Tổ quốc.
Tôi mong rằng những quí vị độc giả ủng hộ quan điểm này của tôi, chúng ta hãy cùng nhau lên tiếng kêu gọi, cổ vũ và ủng hộ đảng Cộng sản Việt Nam và chính phủ trong việc cải thiện tình trạng nhân quyền. Đó là thả tự do cho tất cả các tù chính trị, tôn trọng và cho phép thành lập báo chí tư nhân, thành lập các tổ chức, đảng phái chính trị khác.
Tất cả những người Việt Nam yêu nước đều mong muốn rằng đảng Cộng sản Việt Nam hãy đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích đảng phái để thực thi cải cách dân chủ và nhân quyền.
Không chỉ vì lợi ích của các thế hệ người Việt Nam hôm nay mà cho cả các thế hệ mai sau, trong đó có các thế hệ đảng viên đảng Cộng sản.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, một luật sư hiện sống ở Hà Nội.

Thứ Sáu, 6 tháng 4, 2012

Thành công của Miến Điện mang lại hy vọng


Thành công của Miến Điện mang lại hy vọng

Cập nhật: 15:42 GMT - thứ sáu, 6 tháng 4, 2012
Bầu cử bổ sung ở Miến Điện
Cuộc bầu cử bổ sung tự do, công bằng và có sự tham gia của 17 đảng phái chính trị ở Miến Điện vào ngày 1/4/2012 vừa qua không chỉ đi vào lịch sử của Miến Điện mà sẽ đi vào lịch sử của khu vực Asean và thế giới.
Bà Aung San Suu Kyi đã phát biểu sau khi thắng cử: “ Đây là chiến thắng của nhân dân…” và “Chúng tôi hy vọng đây là khởi đầu của một kỷ nguyên mới”.
Cộng đồng quốc tế đã đánh giá rất cao cuộc bầu cử này đồng thời còn đánh giá tích cực toàn bộ tiến trình dân chủ hóa đang diễn ra mạnh mẽ tại Miến Điện. Họ coi đó là khuôn mẫu để cho các chế độ độc tài và độc đảng khác còn lại trên thế giới học tập.
Những sự hy sinh và nỗ lực đấu tranh cho tự do dân chủ của nhân dân Miến Điện trải qua nhiều thập kỷ đã được đền đáp xứng đáng. Những ngày tới đây, chắc chắn Hoa Kỳ và EU sẽ tiếp tục nới lỏng và tiến tới xóa bỏ hoàn toàn cấm vận chống tập đoàn quân nhân Miến Điện trong nhiều thập kỷ qua.
Điều này sẽ đưa Miến Điện hội nhập một cách toàn diện trong cộng đồng Asean và thế giới.

Con đường phát triển

Chính phủ của đảng Đoàn kết và Phát triển Liên bang (USDP) cầm quyền và các đảng phái chính trị khác cùng toàn thể nhân dân Miến Điện đã lựa chọn con đường dân chủ hóa, xây dựng chế độ xã hội dân chủ đa đảng làm nền tảng vững chắc cho sự ổn định và phát triển phồn thịnh của đất nước.
"Chỉ có những nước xây dựng chế độ xã hội dân chủ đa đảng, thì những nước đó mới thực sự có xã hội ổn định, kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được ấm no."
LS Nguyễn Văn Đài
Sự lựa chọn khôn ngoan này không những đem lại lợi ích cho các thế hê người Miến Điện hôm nay mà còn cho các thế hệ tương lai.
Chúng ta cùng nhìn rộng ra các nước trong khu vực châu Á, chỉ có những nước xây dựng chế độ xã hội dân chủ đa đảng, thì những nước đó mới thực sự có xã hội ổn định, kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được ấm no: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Thái Lan,…
Trong khu vực châu Á, lịch sử đã cho thấy có nhiều nước từng chuyển đổi từ chế độc tài quân sự, chế độ độc đảng sang chế độ dân chủ đa đảng. Tiêu biểu đó tiêu biểu trong số đó là Đài Loan.
Sau năm 1949, Quốc dân đảng, đứng đầu là cố Tổng thống Tưởng Giới Thạch đã xây dựng và duy trì chế độ độc đảng tại Đài Loan suốt nhiều thập kỷ.
Cho đến giữa thập niên 80 của thế kỷ 20, khi đó kinh tế Đài Loan đang phát triển, trong xã hội nổi lên một từng lớp trung lưu vững vàng, những người dân có học thức mong muốn được tham gia nhiều hơn về chính trị.
Lúc này xã hội Đài Loan đã đủ trưởng thành để gánh thêm trách nhiệm trong nền chính trị mang tính dân chủ.
Vào năm 1986, mặc dù lệnh cấm đảng phái chính trị mới chưa được bãi bỏ, nhưng rất nhiều người dân Đài Loan đã thành lập lên những tổ chức chính trị đối lập. Rất nhiều người đã bị sách nhiễu, bắt giữ và tù đày. Nhưng người dân Đài Loan vẫn quyết tâm thực hiện ý nguyện của họ về một xã hội dân chủ.
Một trong những đảng mà sau này đã giành thắng lợi trong cuộc bầu cử Tổng thống là Đảng Dân tiến do ông Trần Thủy Biển đứng đầu.
Cố Tổng thống Đài Loan, ông Tưởng Kinh Quốc, và cũng là lãnh đạo của Quốc dân đảng lúc đó, đã khởi xướng tiến trình cải cách chính trị không phải do áp lực mà do tác dụng của sự tiến bộ xã hội.
Nhân dân Đài Loan và Quốc dân đảng đã thành công trong việc xây dựng và nuôi dưỡng nền chính trị dân chủ đa đảng trong hòa bình. Kết quả đất nước Đài Loan ngày nay kinh tế phát triển, nền chính trị dân chủ ổn định, cuộc sống của người dân được tự do và sung túc.

Hy vọng cho Việt Nam?

Việc chuyển đổi từ chế độc đảng sang chế độ dân chủ đa đảng tại Đài Loan trước đây và sự chuyển đổi từ chế độ độc tài quân sự sang chế độ dân chủ đa đảng của Miến Điện hôm nay có điểm trùng hợp là: ngoài nỗ lực đấu tranh của nhân dân, sự ủng hộ và vận động của cộng đồng quốc tế, thì đảng cầm quyền đã chủ động lãnh đạo và dẫn dắt nhân dân trong tiến trình dân chủ hóa.
Do vậy việc chuyển đổi thể chế chính trị ở những nước này đã diễn ra trong hòa bình, phi bạo lực.
Lãnh đạo đối lập Miến Điện Aung San Suu Kyi
Cuộc bầu cử bổ sung tại Miến Điện được nhiều khen ngợi
Tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, khi còn là Chủ tịch Quốc hội, trong chuyến thăm Ấn Độ năm 2010 đã trả lời phỏng vấn báo Express của nước chủ nhà.
Ông nói: "Ở Việt Nam chưa thấy sự cần thiết khách quan phải có chế độ đa đảng, ít nhất là cho đến bây giờ”.
Câu trả lời của ông Nguyễn Phú Trọng phần nào đã đúng.
Bởi khi sống dưới chế độ độc đảng toàn trị, mọi ý kiến phản biện về chính trị đều bị qui là phản động, bị đàn áp, sách nhiễu, bắt bớ, tù đày thì mong muốn, khát khao về một xã hội dân chủ của mọi người dân chỉ để trong lòng, rất ít người dám bày tỏ và tranh luận với những người xung quanh để đi đến những đòi hỏi về dân chủ trong xã hội.
Như vậy thì làm sao đảng Cộng sản biết mà đáp ứng?
Do đó, mọi người dân cần phải chiến thắng sự sợ hãi, dũng cảm bày tỏ và đòi hỏi về một xã hội dân chủ đa đảng để điều đó trở thành một sự cần thiết khách quan trong xã hội.
Rất nhiều người hỏi tôi là khi nào Việt Nam có dân chủ?
Tôi nói với họ rằng nếu hôm nay, tất cả công dân Việt Nam mong muốn có dân chủ, cùng nhau thực thi quyền chính trị của mình trong Hiến pháp, cùng nhau bày tỏ quan điểm của mình và cùng nhau đòi hỏi thì đảng Cộng sản Việt Nam sẽ lắng nghe và ngay ngày mai họ sẽ đáp ứng nguyện vọng của chúng ta.
Đất nước Việt Nam của chúng ta sẽ có tự do, dân chủ.
Còn tất cả chúng ta đều mong muốn, đều khát khao nhưng không có ai dám bày tỏ, đòi hỏi hoặc có rất ít người bày tỏ, đòi hỏi thì sẽ không bao giờ có dân chủ.

Đến từ nhận thức

Tiến trình dân chủ phải đến từ nhận thức của đảng cầm quyền và mọi người dân. Tất cả chúng ta đều cần phải nhận thức và tin tưởng sâu sắc rằng một xã hội càng dân chủ, tự do và cởi mở bao nhiêu thì sự tiến bộ và phát triển sẽ càng nhanh chóng và xã hội sẽ càng ổn định và thịnh vượng bấy nhiêu.
Khi đã có nhận thức đúng đắn về dân chủ, mọi người dân cần phải tự do trao đổi ý kiến, quan điểm của mình trong xã hội.
"Đảng Cộng sản Việt Nam hãy giữ gìn quyền lãnh đạo đất nước của mình bằng đạo đức, tài năng, uy tín, bằng sự yêu mến và tín nhiệm của nhân dân. Đừng giữ gìn quyền lãnh đạo của mình bằng quân đội, cảnh sát, an ninh và nhà tù. "
LS Nguyễn Văn Đài
Trao đổi, thảo luận với nhau về chính trị, về đa nguyên, đa đảng là điểm khởi đầu cho sự thay đổi.
Việc trao đổi ý kiến, quan điểm và những đòi hỏi về đa nguyên đa đảng không phải là tội lỗi và cũng không vi phạm pháp luật. Đó là quyền con người về chính trị của công dân Việt Nam.
Kinh nghiệm từ lịch sử của các nước dân chủ văn minh cho thấy: độc lập, tự do, dân chủ, nhân quyền không bao giờ tự nhiên mà có được.
Những kinh nghiệm của nhân dân Đài Loan trước đây và nhân dân Miến Điện ngày hôm nay sẽ giúp và khích lệ mọi công dân Việt Nam có trách nhiệm trong tiến trình dân chủ hóa đất nước.
Những kinh nghiệm của Quốc dân đảng tại Đài Loan và của đảng Đoàn kết và Phát triển liên bang(USDP) cầm quyền tại Miến Điện sẽ giúp ích và khích lệ đảng Cộng sản Việt Nam trong việc chủ động thực hiện tiến trình dân chủ hóa tại Việt Nam.
Nhân dân mong rằng đảng Cộng sản Việt Nam hãy giữ gìn quyền lãnh đạo đất nước của mình bằng đạo đức, tài năng, uy tín, bằng sự yêu mến và tín nhiệm của nhân dân. Đừng giữ gìn quyền lãnh đạo của mình bằng quân đội, cảnh sát, an ninh và nhà tù.
Những thế hệ đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam trước đây đã không sợ hãi trước bom đạn và đã chiến thắng các cường quốc quân sự trên thế giới. Không lẽ nào những thế hệ đảng viên đảng Cộng sản ngày hôm nay lại lo lắng và run sợ trước những người đồng bào của mình khi họ sử dụng các quyền con người về chính trị đã được qui định trong Hiến pháp?
Đảng Cộng sản Việt Nam đã thành công trong việc giữ độc quyền lãnh đạo đất trong hơn nửa thế kỷ. Nay đảng Cộng sản Việt Nam dám tiến hành dân chủ hóa đất nước và chia sẻ quyền lực vì lợi ích to lớn của dân tộc thì đó mới thực sự là một Đảng anh hùng.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, một luật sư bất đồng chính kiến đang sống tại Hà Nội.