Thứ Hai, 2 tháng 4, 2012

Ngày Quốc Tế Nhân Quyền

Ngày Quốc Tế Nhân Quyền: Nghĩ đến vợ con của những Tù Nhân Lương Tâm

LS Nguyễn Văn Đài
Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2011


Mỗi năm khi đến ngày quốc tế nhân quyền, người ta thường nhắc đến và tôn vinh những người đấu tranh cho nhân quyền, những người tù lương tâm đang bị giam giữ trong các nhà tù. Trong bài viết và cũng là lá thư này, tôi nhắc đến vợ, con, bố mẹ của những người tù lương tâm ở Việt Nam. Tại sao tôi gọi họ là những người tù lương tâm bởi những gì họ nói, họ viết, họ làm đều xuất phát từ lương tâm và trách nhiệm của họ với nhân dân và đất nước. Họ không có các mục đích cá nhân hay mục đích chính trị trong lời nói, bài viết hay việc làm của họ. Những gì họ nói, họ viết, họ làm đều là các quyền con người về chính trị được ghi nhận trong Hiến pháp Việt Nam năm 1992. Được Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị ghi nhận và bảo vệ. Được chính phủ Việt Nam thường xuyên tuyên bố tôn trọng và bảo đảm thực thi trong cuộc sống.

Người đầu tiên tôi muốn nhắc tới là chị Thu Trang, vợ của người tù lương tâm Phạm Văn Trội. Từ khi chồng bị bắt, gánh nặng của cả gia đình đặt lên đôi vai của chị. Hàng ngày phải đi làm, vừa đi và về hơn 40 km. Nuôi hai con còn nhỏ, đứa lớn chưa đầy 10 tuổi, đứa nhỏ 4 tuổi, còn người mẹ chồng hơn 80 tuổi, đau ốm thường xuyên. Hàng tháng chị vẫn phải thăm nuôi người chồng bị giam cầm ở nhà tù Nam Hà. Vài tháng một lần chị phải chở hai con nhỏ bằng xe gắn máy vượt chặng đường hàng chục km để đưa con đến thăm cha. Khi tôi gặp chị, sâu thẳm bên trong là nỗi buồn của người phụ nữ xa chồng, nhưng ánh mắt chị vấn toát lên nghị lực, niềm tin để tiếp tục chăm sóc con nhỏ, mẹ già chờ ngày người chồng yêu thương trở về. Hai đứa trẻ tuy thiếu vắng sự chăm sóc của người cha, nhưng chúng rất ngoan và nghe lời mẹ. Chúng không bị mặc cảm mà trái lại rất tự hào về người cha của mình. Chị và cậu con trai đã từng tham gia biểu tình chống giặc ngoại xâm, cả hai mẹ con bị bắt, bị bỏ đói. Nhưng họ đều không sợ hãi bởi họ tin vào những gì người chồng, người cha của họ đã làm là đúng đắn. Và họ chỉ góp một phần nhỏ bé của mình vào điều đó mà thôi. Người mẹ già hơn 80 tuổi, ngày đêm mong ngóng con trai trở về để chăm sóc bà những ngày tháng cuối đời. Nước mắt của bà cụ đã cạn khô, chỉ còn lại tiếng sụt sùi khi nói chuyện với tôi về người con trai của cụ.

Người thứ hai tôi muốn nhắc đến là chị Nguyễn Thị Lành, vợ của mục sư, người tù lương tâm Nguyễn Trung Tôn. Gia đình mục sư Tôn ở một vùng quê nghèo của tỉnh Thanh Hóa. Từ khi ông bị bắt, việc nuôi dưỡng, chăm sóc ba con nhỏ và bố mẹ già tuổi trên 80 đặt trên vai chị Lành. Chị phải vừa làm việc ruộng, vừa chạy chợ buôn bán vất vả để nuôi con, nuôi bố mẹ chồng, và hàng tháng phải tới thăm nuôi chồng bị giam ở Nghệ An. Những lúc con cái, bố mẹ chồng ốm đau, chị phải gồng mình để vừa chăm sóc người ốm, vừa chạy chợ kiếm tiền. Nhưng chị vẫn tin tưởng và hết lòng ủng hộ cho chồng mà không chút oán trách. Bố của mục sư Nguyễn Trung Tôn đã gọi điện cho tôi, cụ nói: “Thằng Tôn có tội tình gì đâu mà người ta giam cầm nó, ông già yếu quá rồi, ông mong nó trở về để nó nhìn thấy ông lần cuối, và ông cũng thấy nó lần cuối trước khi ông trở về với Chúa. Con ơi! Hãy cầu nguyện Chúa cùng ông để Chúa sớm đưa nó trở về.” Tôi đã cầu nguyện cùng ông với hai hàng nước mắt.

Người thứ ba tôi muốn nhắc đến là chị A mi Hiêm, người phụ nữ dân tộc Ê Đê. Chị cũng như trên một trăm người phụ nữ Ê Đê, Gia Rai, Ba Na khác. Họ là vợ của những người tù lương tâm đang bị giam cầm trong các nhà tù ở Hà Nam, Thanh Hóa, Phú Yên, … Trước khi những người chồng của họ bị bắt, thì mọi công việc trong gia đình đều do người chồng đảm trách. Gần mười năm nay, họ phải thay chồng làm việc vất vả để nuôi con, nuôi bản thân và thỉnh thoảng phải gửi chút quà để động viên người chồng đang ở trong tù. Hôm tôi gọi điện thoại cho chị A mi Hiêm, chị trả lời trong tiếng khóc nức nở: “Em có ba đứa con nhỏ, đứa lớn đang ở nhà một mình, em đang ở bệnh viện chăm sóc hai đứa nhỏ bị ốm. Tiền học đóng cho con chưa có, nhà trường dọa đuổi học, tiền thuốc thang, viện phí cũng không. Chồng em viết thư về xin chút tiền để bồi dưỡng thêm vì tiêu chuẩn ăn của nhà tù không đủ dinh dưỡng. Anh ơi hãy cầu nguyện cho em!...” Tôi chỉ biết cầu nguyện cho chị trong nước mắt.

Đây chỉ là ba trong số hàng trăm người vợ và hàng trăm người con của những người tù lương tâm mà tôi không thể nêu lên hết.

Ngày quốc tế nhân quyền, chúng ta nhắc đến quyền của những người phụ nữ. Họ cần có người chồng ở bên cạnh để yêu thương, che trở, an ủi, động viên và chia sẻ những niềm vui cũng như nỗi buồn. Ngày quốc tế nhân quyền, chúng ta nhắc đến quyền của những trẻ em, chúng cần sự chăm sóc, nuôi nẫng, bảo vệ và giáo dục của người cha. Ngày quốc tế nhân quyền, chúng ta nhắc đến quyền của bậc cha mẹ cao tuổi, họ cần sự chăm sóc, giúp đỡ của con cái lúc tuổi già. Có khoảng hai trăm người vợ của những người tù lương tâm, có hàng trăm đứa trẻ là con của những người tù lương tâm, có hàng chục người cha, người mẹ cao tuổi của những người tù lương tâm. Họ là người Kinh, người Ê Đê, Gia Rai, Ba Na. Ngày đêm họ mong ngóng người chồng, người cha, người con của họ được trở về. Những người tù lương tâm cần được trả tự do để họ có thể làm trọn bổn phận của người chồng với người vợ, làm tròn bổn phận của người cha với con cái, làm tròn bổn phận của người con với cha mẹ. Họ tiếp tục làm tròn trách nhiệm của họ với nhân dân và Tổ quốc.

Tôi thay mặt cho những người vợ, người con, người cha, người mẹ và nhân danh cá nhân. Tôi kêu gọi ông Chủ tịch nước Trương Tấn Sang. Ông Bộ trưởng Bộ công an, ông Chánh án Tòa án nhân dân tối cáo, ông Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, bởi truyền thống nhân đạo của người Việt Nam, hãy trả tự do cho tất cả những người tù lương tâm mà các ông đang giam giữ.

Tôi kêu gọi cộng đồng quốc tế, chính phủ các nước, các tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế hãy lên tiếng vận động chính phủ Việt Nam trả tự do cho những người tù lương tâm mà họ đang giam giữ.
Trân trọng cảm ơn tất cả Quí vị.

Luật sư Nguyễn Văn Đài.

Nhìn Miến Điện nghĩ về Việt Nam

Nhìn Miến Điện nghĩ về Việt Nam

Cập nhật: 09:36 GMT - thứ hai, 17 tháng 10, 2011
Miến Điện trả tự do cho tù chính trị
Chính quyền Miến Điện đã thả hàng trăm tù chính trị
Giống như Việt Nam, trước đây Miến Điện luôn phủ nhận có giam giữ tù nhân chính trị hay tù nhân lương tâm. Nhưng gần đây chính quyền Miến Điện đã công khai thừa nhận có tù nhân chính trị và họ sẽ xem xét để thả tự do cho tất cả tù nhân chính trị.
Ngày 12/10/2011, chính quyền Miến Điện đã trả tự do cho hơn 200 tù chính trị.
Chính quyền Miến Điện gần đây cũng tuyên bố “không cần thiết phải duy trì kiểm duyệt thông tin”. Tổng thống Thein Sein đã khởi đầu đối thoại với lãnh tụ phe đối lập Aung San Suu Kyi vốn bị tập đoàn quân sự giam giữ và quản thúc suốt 15 năm.
Trước đó, Miến Điện đã tiến hành chuyển từ chế độ quân sự sang chế độ dân sự, xây dựng hệ thống chính trị đa đảng bằng việc cho các đảng phái chính trị khác nhau đăng ký thành lập và hoạt động Trong cuộc bầu cử đa đảng năm 2010, đã có hàng chục chính đảng tham gia.
Có thể nói Miến Điện đã thực sự bước vào giai đoạn dân chủ hóa đất nước. Những khó khăn có thể vẫn còn ở phía trước, nhưng những chuyển biến và tín hiệu tích cực gần đây đã đem lại hy vọng về một tương lai xán lạn cho đất nước và nhân dân Miến Điện.
Tại sao nhân dân Miến Điện đã đạt được rất nhiều tiến bộ trong tiến trình dân chủ hóa của mình?
Thứ nhất, đó là nhờ sự đấu tranh kiên trì, không biết mệt mỏi của các từng lớp nhân dân Miến Điến trong suốt nhiều thập kỷ qua.
Đã có hàng chục ngàn lượt người dũng cảm đứng lên đấu tranh và họ đã bị sự sách nhiễu, đàn áp, bắt giữ và cầm tù của chính quyền. Nhưng hết thế hệ này đến thế hệ khác, nhân dân Miến Điện vẫn kiên trì con đường đấu tranh dân chủ mà thế hệ trước đã lựa chọn.
Đồng thời phe đối lập của Miến Điện có vị lãnh tụ Aung San Suu Kyi, người được giải thưởng Nobel hòa bình và được toàn thế giới biết đến và ủng hộ. Bà không chỉ tấm gương dũng cảm, không sợ gian khó, tù đày của nhân dân Miến Điện. Bà còn là tấm gương cho nhân dân các nước đang bị áp bức, chưa có tự do dân chủ.
Thứ hai, đó là sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng Quốc tế đối với cuộc đấu tranh của nhân dân Miến Điện. Liên hiệp châu Âu đã cùng Hoa Kỳ áp đặt trừng phạt kinh tế Miến Điện từ cuối thập niên 90.
Trong số các điều kiện mà các nước Tây phương đòi hỏi để bỏ cấm vận là chính quyền Miến Điện phải tôn trọng nhân quyền và trả tự do cho toàn bộ 2.000 tù nhân chính trị.
Bởi áp lực mạnh mẽ của cộng đồng Quốc tế mà trong nhiều năm chính quyền quân sự của Miến Điện đã bị cô lập về kinh tế, chính trị và ngoại giao với thế giới. Điều này đã góp một phần trong tiến trình dân chủ hóa của đất nước Miến Điện.

Nỗ lực của người dân

Đồng thời chúng ta cần nhận thức rằng để tiến đến một xã hội dân chủ thì cần phải có nỗ lực từ hai phía chính quyền và người dân.
"Nếu như đất nước Việt Nam chúng ta cũng có hàng ngàn, hàng vạn người dân dám dũng cảm đứng lên đấu tranh cho dân chủ thì chắc chắn chính quyền sẽ phải lắng nghe và đáp ứng nguyện vọng của nhân dân."
Về phía nhân dân Miến Điện, họ khát khao xây dựng một xã hội dân chủ, họ nhận thức được rằng chỉ có một xã hội dân chủ thì đất mới phát triển và hội nhập được với cộng đồng Quốc tế. Và điều đó cũng sẽ đem lại tự do và hạnh phúc cho các thế hệ người dân Miến Điện hôm nay và mai sau.
Do đó mà nhân dân Miến Điện đã nỗ lực đấu tranh và họ đã gặt hái được những bông trái đầu mùa.
Còn về phía chính quyền, chúng ta thấy rằng các nhà lãnh đạo Miến Điện cũng nhận thức được chỉ có con đường thực thi dân chủ hóa đất nước thì họ mới được gỡ bỏ cấm vận về kinh tế của Liên hiệp châu Âu và Hoa Kỳ. Và cũng từ đó họ mới có thể phát triển được kinh tế và hội nhập Quốc tế.
Dân chủ hóa đất nước cũng là cách để chính quyền Miến Điện có thể nhận được sự ủng hộ của nhân dân. Dân chủ hóa là con đường để chính quyền tiếp tục duy trì được quyền lãnh đạo để phục nhân dân và Tổ quốc của họ.
Ngưỡng mộ và chúc mừng thành quả của nhân dân Miến Điện, chúng ta nhìn lại công cuộc đấu tranh dân chủ của nhân dân Việt Nam trong những năm qua.
Trong Hiến pháp và pháp luật của Việt Nam đã qui định khá đầy đủ các quyền con người về chính trị. Đồng thời các nhà lãnh đạo của Việt Nam cũng luôn long trọng tuyên bố với thế giới rằng các quyền con người về chính trị ở Việt Nam luôn được tôn trọng và thực thi trong thực tế.
Như vậy nhân dân Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý để thực thi các quyền con người về chính trị của mình.
Trong những năm qua đã có nhiều từng lớp nhân dân đứng lên đấu tranh dân chủ bằng cách thực hiện các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, thành lập và tham gia các đảng phái chính trị. Mặc dù các quyền đó đã được nghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật và chính quyền luôn tuyên bố tôn trọns. Nhưng nhận thức và sự hiểu biết của chính quyền, của đảng Cộng sản, về dân chủ và các quyền con người còn hạn chế nên đã dẫn đến việc sách nhiễu, đàn áp, bắt giữ và cầm tù nhiều người đấu tranh dân chủ.
Đồng thời còn có quá ít người dân yêu nước và có trách nhiệm với đất nước dám dấn thân cho công cuộc đấu tranh dân chủ.
Nếu như đất nước Việt Nam chúng ta cũng có hàng ngàn, hàng vạn người dân dám dũng cảm đứng lên đấu tranh cho dân chủ thì chắc chắn chính quyền sẽ phải lắng nghe và đáp ứng nguyện vọng của nhân dân.
Phiên tòa xử ông Trần Anh Kim
Nhiều nhà bất đồng chính kiến đã bị tù đày
Chúng ta đều biết rằng thành quả của nhân dân Miến Điện ngày hôm nay, cũng như những thành tựu về quyền con người mà các nước dân chủ văn minh đã dành được đều không phải tự nhiên mà có.
Tất cả đều đã phải trải quá trình đấu tranh gian khổ và bền bỉ của nhân dân các nước đó. Các thế hệ người Việt Nam ngày hôm nay muốn được hưởng những giá trị đích thực của quyền con người, giá trị đích thực của nền độc lập. Và chúng ta cũng muốn để lại những giá trị tốt đẹp đó cho các thế hệ con cháu thì ngay từ lúc này mỗi người dân cần phải có trách nhiệm với đất nước của chúng ta.
Trong những năm vừa qua, chúng ta cũng đã nhận được sự lên tiếng ủng hộ của chính phủ và nhân dân các nước trên khắp thế giới, các tổ chức bảo vệ nhân quyền Quốc tế. Khi công cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ của chúng ta càng phát triển mạnh mẽ thì chúng ta cũng sẽ nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ hơn từ cộng đồng Quốc tế.
Tiến trình dân chủ hóa Việt Nam phải đến từ hai phía.
Chúng ta mong rằng đảng Cộng sản Việt Nam sẽ nhận thức được việc xây dựng một xã hội dân chủ sẽ giúp cho đất nước chúng ta hội nhập một cách trọn vẹn với thế giới về kinh tế, chính trị, ngoại giao. Chúng ta có cơ hội để xây dựng mối quan hệ đồng minh với các cường quốc dân chủ và từ đó giúp ta bảo vệ được chủ quyền quốc gia, phát triển kinh tế.
Những điều đó sẽ đem lại cuộc sống sung túc và hạnh phúc cho mọi người dân. Đồng thời khi đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành dân chủ hóa đất nước sẽ giúp cho uy tín của họ tăng lên, nhận được sự ủng hộ nhiều hơn từ nhân dân. Từ đó giúp cho họ duy trì được quyền lãnh đạo để phục vụ đất nước và nhân dân.
Đấu tranh cho tự do, dân chủ là quyền và trách nhiệm cao cả của mỗi công dân Việt Nam. Quí vị độc giả nghĩ gì về vai trò của mình trong công cuộc đấu tranh cho tự do và dân chủ?
Bài viết thể hiện quan điểm và cách hành văn của tác giả, một luật sư bất đồng chính kiến hiện đang thực hiện lệnh quản chế tại Hà Nội.

Thứ Năm, 1 tháng 9, 2011

Giá trị đích thực của nền độc lập

 

Cập nhật: 07:00 GMT - thứ năm, 1 tháng 9, 2011
Ông Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945
Việt Nam kỷ niệm 66 năm ngày Tuyên ngôn Độc lập
Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đã giành được độc lập và có chủ quyền.
Để giành được độc lập dân tộc, nhiều dân tộc trên thế giới đã phải hy sinh xương máu của nhiều thế hệ.
Nền độc lập của một quốc gia là vô giá, nhưng điều quan trọng hơn cả là nhân dân phải được hưởng những thành quả đích thực mà nền độc lập đó mang lại.
Giá trị đích thực của nền độc lập là nhân dân có quyền làm chủ đất nước của mình bằng cách lựa chọn hay thay đổi quốc hội, chính phủ thông qua cuộc bầu tự do và công bằng.
Nhân dân có tự do ngôn luận, có quyền làm báo chí tư nhân, có quyền lập đảng, lập hội, hội họp, có quyền biểu tình hòa bình mà không bị đàn áp, bắt bớ…
Những dân tộc, những quốc gia may mắn trên thế giới là ngay sau khi giành được độc lập, họ đã tiến hành dân chủ hóa xã hội và xây dựng lên một hệ thống chính trị dân chủ đa đảng, tôn trọng phẩm giá con người và các giá trị của quyền con người.
Trên nền tảng căn bản đó, nền kinh tế của họ phát triển đúng hướng và mạnh mẽ nên đã đảm bảo cho nhân dân các nước đó có cuộc sống sung túc, quốc gia hùng mạnh về kinh tế, chính trị và quân sự.
Xã hội phát triển hài hòa và ổn định giúp cho người được hưởng thụ những giá trị đích thực của một quốc gia độc lập. Ví dụ như những nước trong khu vực châu Á như: Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan,…

Bức tranh Đông Âu

Có những dân tộc, quốc gia không may mắn thì sau khi giành được độc lập, những lực lượng lãnh đạo cách mạng đã phản bội lại nhân dân, họ đã không thực hiện dân chủ hóa xã hội, không xây dựng hệ thống chính trị dân chủ đa đảng, mà xây dựng nên một chính thể có thể là chính quyền độc tài, độc tài quân sự, hay chế độ độc đảng toàn trị.
"Nền độc lập của một quốc gia là vô giá, nhưng điều quan trọng hơn cả là nhân dân phải được hưởng những thành quả đích thực mà nền độc lập đó mang lại. "
LS Nguyễn Văn Đài
Ở trong các chế độ này thì các quyền con người không được tôn trọng và hầu hết các quyền con người về chính trị bị hạn chế hoặc tước đoạt.
Ví dụ như quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí: khi người dân chỉ trích hay phê phán chính quyền thì bị qui chụp tội danh tuyên truyền chống Nhà nước, quyền tự do làm báo của công dân bị tước đoạt nên không có các tờ báo tư nhân; khi người dân thực hiện quyền lập đảng, lập hội hay tham gia các đảng phái thì bị qui chụp tội danh hoạt động nhằm lật đổ chính quyền; khi người dân thực thi quyền biểu tình thì bị qui chụp tội danh phá rối trật tự nơi công cộng hay tội chống người thi hành công vụ…
Hệ quả là nhân dân các quốc gia này phải tiếp tục tiến hành cuộc cách mạng dân chủ để thay đổi các chế độc tài, độc đảng toàn trị bằng một chế độ dân chủ, tôn trọng các quyền con người.
Ví dụ ở các nước Đông Âu: sau Thế chiến thứ II, một loạt các nước Đông Âu thoát khỏi hiểm họa của chủ nghĩa phát xít và giành được độc lập.
Thay vì tiến hành dân chủ hóa xã hội, tôn trọng các quyền con người thì đảng cộng sản ở các nước này thực hiện chuyên chính vô sản, xây dựng chế độc đảng toàn trị.
Sau nhiều thập kỷ bị mất quyền làm người thì vào cuối thập niên 80 của thế kỷ 20, nhân dân các nước đông Âu đã đứng lên làm cuộc cách mạng dân chủ mà người ta còn gọi là Cách mạng nhung để thay thế các chế độc đảng toàn trị bằng các chế độ dân chủ đa đảng.
Kết quả là ngày nay các nước Đông Âu đang dần hội nhập toàn diện với các nước Tây Âu về kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao.

Độc lập và dân chủ

Ở các nước Trung Đông và Bắc Phi hầu hết đều là các quốc gia độc lập, nhưng nhiều chính thể ở các quốc gia đó là chính phủ độc tài hoặc độc đảng toàn trị.
Biểu tình ở Libya
Người dân Libya biểu tình chống chế độ độc tài
Sau nhiều thập kỷ phải chịu đựng sự cai trị hà khắc của các chế độ này thì gần đây nhân dân các nước Ai Cập, Tunisia đã đứng lên làm cuộc cách mạng dân chủ và đã thành công.
Nhân dân Libya cũng sắp thành công và sớm hay muộn thì cuộc cách mạng dân chủ ở Yemen và Syria cũng sẽ thành công.
Tuy nhân dân các nước này sẽ gặp những khó khăn ngắn hạn trước mắt, nhưng chắc chắn cuối cùng những giá trị đích thực của độc lập sẽ đến với họ.
Trên thế giới có gần 200 quốc gia độc lập, có chủ quyền. Nhưng không phải tất cả nhân dân các nước đều được hưởng những giá trị đích thực của nền độc lập.
Độc lập dân tộc phải gắn liền với tiến trình dân chủ hóa xã hội và tôn trọng các quyền con người thì nhân dân mới từng bước được hưởng những giá trị của nền độc lập.
Còn có độc lập dân tộc mà không có dân chủ thì nhân dân đã làm cuộc cách mạng vô ích để thay thế sự cai trị của giặc ngoại xâm bằng sự cai trị độc ác hơn và tàn bạo hơn của giặc nội xâm.
Ngày 2/9/2011, chúng ta sẽ kỷ niệm 66 năm ngày độc lập.
Quí vị nghĩ gì về hiện tình đất nước? Chúng ta phải làm gì để tất cả mọi người dân Việt Nam đều được hưởng những giá trị đích thực của nền độc lập?
Bài viết phản ánh quan điểm của tác giả, một luật sư bất đồng chính kiến hiện đang thi hành lệnh quản chế tại gia ở Hà Nội.

Thứ Bảy, 6 tháng 8, 2011

XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ ĐA ĐẢNG Ở VIỆT NAM

XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ ĐA ĐẢNG Ở VIỆT NAM

Luật sư Nguyễn Văn Đài, Hà nội.

Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ đã phát biểu trước hội đồng xét xử phúc thẩm:

“Tôi không chống đối Đảng cộng sản Việt Nam, tôi chỉ yêu cầu xây dựng một hệ thống đa đảng cho phép cạnh tranh lành mạnh vì lợi ích cuối cùng của nhân dân và đất nước.”

Tôi chia sẻ và ủng hộ quan điểm này của tiến sĩ Vũ. Sau đây tôi đặt ra một số câu hỏi và tự trả lời cũng như lý giải cho các câu hỏi ấy:

1/ Công dân Việt Nam có quyền kiến nghị về việc xây dựng một hệ thống chính trị đa đảng không?

Theo Hiến pháp Việt Nam năm 1992 qui định tại Điều 69 “công dân có quyền lập hội” và tại Điều 50 “Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị,… được tôn trọng,..” điều này được hiểu rằng các quyền con người về chính trị như quyền tham gia đảng phái, tổ chức chính trị hoặc quyền thành lập đảng phái, tổ chức chính trị được Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo vệ.

Tại Điều 52 qui định: “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật.” điều này được hiểu là công dân Việt nam dù là đảng viên đảng cộng sản hay là đảng viên của một đảng khác hay không theo một đảng phái nào thì đều bình đẳng như nhau trước pháp luật. Pháp luật không trao một đặc quyền nào cho những công dân là đảng viên đảng cộng sản. Và pháp luật cũng không tước đi một quyền nào của những công dân theo đảng phái khác hay không theo đảng phái.

Điều 53 qui định “Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước,” và Điều 69 qui định “Công dân có quyền tự do ngôn luận” qua hai Điều này được hiểu là công dân Việt Nam có quyền được tự do bày tỏ hay thảo luận các vấn đề có liên quan đến chính trị hay cải cách chính trị, cải cách dân chủ mà Nhà nước đang đề cập đến, đồng thời cũng có quyền kiến nghị với cơ quan Nhà nước về những điều mong muốn của mình. Thảo luận, bày tỏ quan điểm hay kiến nghị việc xây dựng hệ thống chính trị đa đảng ở Việt Nam là quyền của công dân được Hiến pháp qui định.

Điều 4 Hiếp pháp 1992 chỉ qui định đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, không qui định rằng ở Việt Nam chỉ được phép tồn tại duy nhất đảng cộng sản. Trong khi Điều 69 qui định công dân Việt Nam có quyền lập hội tức quyền lập đảng.

Hiện nay, Nhà nước do đảng cộng sản lãnh đạo đang kêu gọi cải cách hệ thống chính trị và dân chủ hóa xã hội. Mà công cuộc cải cách dân chủ phải bắt đầu từ hai phía đảng cầm quyền và người dân. Đồng thời sự ra đời và phát triển của các đảng phái đối lập là một yếu tố cần thiết của tiến trình dân chủ.

Bởi vậy, bất kỳ công dân Việt Nam nào cũng có quyền bày tỏ quan điểm hay kiến nghị xây dựng một hệ thống chính trị đa đảng ở Việt Nam. Điều này không trái với Điều 4 với Hiến pháp nhưng lại phù hợp với thực tiễn của tiến trình dân chủ hóa đất nước.

2/ Kiến nghị xây dựng hệ thống chính trị đa đảng có phải là chống lại đảng cộng sản Việt Nam không?

Từ năm 1945 đến giữa năm 1988 ở Việt Nam đã tồn tại một hệ thống chính trị đa đảng, trong đó có đảng cộng sản, đảng dân chủ và đảng xã hội. Mặc dù Hiến pháp năm 1980 tại Điều 4 có qui định đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội. Nhưng hệ thống chíng trị đa đảng này vẫn tồn tại cho tới giữa năm 1988 thì hai đảng dân chủ và đảng xã hội tự tuyên bố giải thể do đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử. Hai đảng này không bị giải tán do vi phạm Điều 4 Hiến pháp 1980. Ngày nay, đảng cộng sản Việt Nam với gần 4 triệu đảng viên, có hệ thống cơ sở vật chất và tổ chức đảng từ trung ương đến địa phương. Đảng cộng sản với đội ngũ đảng viên có trình độ cao và kinh nghiệm hơn 80 năm tồn tại và hoạt động, cho dù có thêm những đảng phái chính trị khác được thành lập và hoạt động thì họ cũng không phải là đối thủ của đảng cộng sản, nhưng nó lại là cần thiết cho tiến trình dân chủ hóa đất nước.

Đảng cộng sản không nên coi các đảng phái chính trị đối lập là kẻ thù của mình mà nên coi họ như một chất xúc tác giúp cho đảng cộng sản có ý thức và động lực để nhìn lại mình, hoàn thiện chính mình giúp cho đảng cộng sản có thể duy trì được sự ủng hộ của nhân dân. Đồng thời việc thành lập các đảng phái chính trị đối lập không phải là để chống lại đảng cộng sản mà quá trình phát triển tự nhiên và tất yếu của xã hội Việt Nam. Nhưng họ sẽ là sự thử thách đối với bản lĩnh, trình độ và kinh nghiệm của đảng cộng sản, giúp cho đảng cộng sản nỗ lực hơn, sáng tạo hơn trong việc lãnh đất nước. Và do vậy nhân dân và đất nước sẽ được hưởng lợi và đảng cộng sản cũng trở nên mạnh mẽ hơn.

Như vậy hệ thống chính trị đa đảng đã là một phần của lịch sử dân tộc Việt Nam với hơn 40 năm tồn tại và phát triển song hành với đảng cộng sản. Hệ thống chính trị đa đảng không hề mâu thuẫn hay chống lại đảng cộng sản. Ngày nay dân chủ hóa đất nước phải luôn gắn liền với việc xây dựng lại hệ thống chính trị đa đảng. Do vậy bất kể công dân Việt Nam nào mà kiến nghị việc xây dựng hệ thống chính trị đa đảng hay đứng ra thành đảng không phải là chống lại đảng cộng sản Việt Nam.

3/ Xây dựng hệ thống chính trị đa đảng sẽ đem lại lợi ích gì?

Các đảng phái đối lập là một thành phần cần thiết và bắt buộc phải có của tiến trình dân chủ hóa. Sự cạnh tranh và sự giám sát giữa các đảng phái sẽ giúp cho hệ thống chính trị hoạt động hiệu quả, nhân dân cũng sẽ thông qua các đảng phái đại diện cho mình để thực hiện quyền giám sát với đảng cầm quyền. Điều này giúp cho đảng cộng sản cầm quyền phải luôn luôn tự xem xét, kiểm điểm lại mình nhằm phát huy hết khả năng, trí tuệ để phục vụ nhân dân và đất nước.

Sự cạnh tranh và giám sát giữa các đảng phái sẽ chống tham nhũng một cách hiệu quả. Bởi dưới sự giám sát của các đảng khác và của nhân dân, buộc đảng cộng sản cầm quyền phải dân chủ hóa trong nội bộ của mình để lựa chọn những đảng viên ưu tú, có phẩm chất đạo đức, bản lĩnh và kinh nghiệm để tham gia chính quyền các cấp, đồng thời loại bỏ được những đảng viên yếu kém về phẩm chất đạo đức và năng lực, đảng viên tha hóa và cơ hội. Những điều này sẽ mang lại sức mạnh và uy tín cho đảng cộng sản, duy trì được sự ủng hộ của nhân dân với họ.

Xây dựng hệ thống chính trị đa đảng, dân chủ hóa đất nước sẽ xóa bỏ đi sự khác biệt về chính trị giữa Việt Nam với các nước dân chủ, văn minh trên thế giới. Giúp cho đất nước chúng ta có thể hội nhập một cách toàn diện với cộng đồng quốc tế. Từ đó chúng ta có thể xây được các mối quan hệ đồng minh với các cường quốc, nhằm giúp cho sự phát triển kinh tế, thương mại, hợp tác an ninh quốc phòng để bảo vệ chủ quyền lãnh hải quốc gia.

Như vậy khi xây dựng hệ thống chính trị đa đảng ở Việt Nam, tất cả mọi người dân, đất nước và đảng cộng sản đều được lợi và tất cả đều chiến thắng.

Tóm lại trong bài viết ngắn ngủi này tôi chưa thể trình bày hết được những vấn đề xung quanh việc xây dựng hệ thống chính trị đa đảng ở Việt Nam. Tôi sẽ trình bày thêm ở các bài viết khác về vấn đề này. Trong bài viết này tôi chỉ muốn chia sẻ và ủng hộ quan điểm của tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ về vấn đề này. Tôi mong muốn và ước ao nhận được sự chia sẻ đồng tình cũng như phản đối của các quí vị độc giả về bài viết này của tôi.



Hà Nội, ngày 3 tháng 8 năm 2011.


Thứ Tư, 3 tháng 8, 2011

QUYỀN BIỂU TÌNH

Quyền biểu tình là quyền Hiến định và là một trong những công cụ pháp lý để nhân dân thực hiện quyền lực của mình như qui định tại điều 2 Hiến pháp 1992 “…Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân...”.
Quyền biểu tình cũng là phương tiện để nhân dân bày tỏ ý chí, nguyện vọng và đòi hỏi của mình trước thực trạng kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng của đất nước.
Quyền biểu tình còn là vũ khí đấu tranh mạnh nhất và cuối cùng của nhân dân khi quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm sau khi tất cả các biện pháp giải quyết bằng thủ tục pháp lý khác không mang lại kết quả hài lòng cho nhân dân.
Bởi ý nghĩa to lớn của quyền biểu tình và quyền biểu tình là quyền Hiến định nên nó không bị hạn chế bởi qui định của các văn bản dưới luật.
Quyền biểu tình chỉ có thể bị hạn chế trong thời gian tình trạng khẩn cấp được công bố chính thức, đe dọa sự sống còn của quốc gia. Và luật về tình trạng khẩn cấp phải do Quốc hội ban hành.
Theo Hiến pháp Việt Nam 1992, nhân dân có hai công cụ pháp lý để thực hiện quyền lực của mình.
Công cụ thứ nhất, quyền bầu cử được qui định tại điều 54. Thông qua việc bầu cử, nhân dân có quyền lựa chọn người đại diện cho mình tại Quốc hội và Quốc hội bầu ra chính phủ.
Khi Quốc hội và chính phủ không hoàn thành nhiệm vụ cũng như ý nguyện mà nhân dân đã giao phó và ủy thác thì nhân dân có quyền thực thi các công cụ pháp lý thứ hai để giải tán Quốc hội và chính phủ.
Công cụ pháp lý thứ hai là quyền biểu tình được qui định tại điều 69.
Tại sao khi nhân dân thực hiện quyền biểu tình là thực thi quyền lực của mình? Bởi sau khi nhân dân bầu ra Quốc hội và Quốc hội bầu ra chính phủ để điều hành công việc của đất nước. Và trong suốt 5 năm nhiệm kỳ của mình chưa chắc là Quốc hội và chính phủ đã thực hiện đúng với những gì mà họ đã hứa hẹn với nhân dân.
Có thể là họ đã ban hành những đạo luật hay thực hiện những chính sách kinh tế xã hội, đối nội, đối ngoại gây thiệt hại cho lợi ích của nhân dân và lợi ích của quốc gia, đồng thời gây ra bất bình cho nhân dân.
Khi đó nhân dân sẽ thực hiện quyền biểu tình để phản đối những đạo luật hay những chính sách bất hợp lý đó của Quốc hội và chính phủ, buộc Quốc hội và chính phủ phải sửa đổi hoặc hủy bỏ các đạo luật hay chính sách đó.
Nếu như yêu cầu đó của nhân dân không được đáp ứng, thì những cuộc biểu tình của nhân dân sẽ kéo dài đến khi Quốc hội và chính phủ đó phải bị giải tán. Nhân dân sẽ thực hiện quyền bầu cử của mình để bầu ra Quốc hội và chính phủ mới phù hợp với ý trí và nguyện vọng của nhân dân.
"Nhân dân thực hiện quyền bầu cử để bầu ra Quốc hội, chính phủ và khi cần thiết nhân dân thực hiện quyền biểu tình để giải tán Quốc hội và chính phủ đó."
Nhân dân thực hiện quyền bầu cử để bầu ra Quốc hội, chính phủ và khi cần thiết nhân dân thực hiện quyền biểu tình để giải tán Quốc hội và chính phủ đó. Như vậy đó mới thực sự là mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân.

Bày tỏ nguyện vọng

Quyền biểu tình là phương tiện để nhân dân đòi hỏi, bày tỏ ý chí, nguyện vọng của mình trước thực trạng kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng của đất nước.
- Khi nền kinh tế rơi vào lạm phát, giá cả hàng hóa tiêu dùng, thực phẩm, xăng dầu tăng cao làm ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đến đời sống của nhân dân, trong khi chính phủ không có giải pháp hoặc có giải pháp nhưng không hiệu quả mà nguyên nhân có thể do lãnh đạo chính phủ quan liêu, yếu kém về năng lực. Bởi vậy nhân dân sẽ thực hiện quyền biểu tình để đòi hỏi sự thay đổi, trừng phạt những quan chức quan liêu, năng lực yếu kém và buộc họ phải từ chức để cho những người có tâm huyết và năng lực thực sự lãnh đạo.
- Khi nền kinh tế được đổi mới và phát triển nhanh chóng, trong khi thể chế chính trị không được đổi mới và cải cách cho phù hợp. Những quyền chính trị căn bản của nhân dân chưa được tôn trọng và thực hiện trên thực tế. Nhân dân sẽ thực hiện quyền biểu tình để đòi hỏi đổi mới và cải cách chính trị, thực hiện dân chủ hóa xã hội.
- Tham nhũng, đạo đức xã hội bị suy thoái đều là những vấn nạn xã hội nghiêm trọng. Và để thúc đẩy và tạo động lực mạnh mẽ trong việc chống tham nhũng, nhân dân có thể thực hiện quyền biểu tình nhằm vào những quan chức đã bị tố cáo tham nhũng, hoặc biểu tình ủng hộ cho những chiến dịch chống tham nhũng.
- Khi chủ quyền, an ninh quốc gia bị ngoại bang đe dọa, xâm chiếm. Nhân dân thực hiện quyền biểu tình để bày tỏ lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết của cả dân tộc trong việc phản đối và chống lại sự đe dọa, xâm chiếm của ngoại bang.
Quyền biểu tình cũng là vũ khí đấu tranh của nhân dân khi quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm:

Biểu tình không cần xin phép

Ở Việt Nam, cho đến thời điểm hiện tại, Quốc hội chưa ban hành luật biểu tình và các đạo luật khác có liên quan đến quyền biểu tình.
Bởi vậy mọi công dân Việt Nam được tự do thực hiện quyền biểu tình mà không cần phải xin phép hay đăng ký. Quyền biểu tình của công dân Việt Nam không bị ràng buộc hoặc hạn chế bởi bất cứ một đạo luật nào đang có hiệu lực.
Hiến pháp năm 1946 chỉ qui định công dân Việt Nam có quyền tự do tổ chức và hội họp. Nhưng từ Hiến pháp 1959, 1980 và 1992 đều qui định công dân Việt Nam có quyền biểu tình.
"Khi Trung Quốc bắt đầu gây hấn ở biển Đông thì nhân dân bắt đầu ý thức được quyền biểu tình của mình để bày tỏ lòng yêu nước. "
Trong thực tế, từ năm 1975 hầu như nhân dân ít thực hiện quyền biểu tình của mình, ngoại trừ những cuộc biểu tình tự phát, qui mô nhỏ ở các địa phương khi có tranh chấp với chính quyền trong việc đền bù, thu hồi đất.
Cho đến năm 2008 khi Trung Quốc bắt đầu gây hấn ở biển Đông thì nhân dân bắt đầu ý thức được quyền biểu tình của mình để bày tỏ lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc và để phản đối Trung Quốc vi phạm chủ quyền lãnh hải của Việt Nam.
Đặc biệt từ đầu tháng 6 năm 2011 tới nay, các tầng lớp thanh niên, sinh viên, trí thức, hưu trí… đã tổ chức các cuộc biểu tình ở Hà Nội và Sài Gòn vào ngày Chủ nhật hàng tuần để phản đối Trung Quốc vi phạm chủ quyền lãnh hải, và phá hoại tài sản của Việt Nam.
Những cuộc biểu tình này chưa thực sự thu hút được nhiều người dân tham gia, nhưng nó lại mang ý nghĩa hết sức quan trọng.
Đó là nhận thức và hiểu biết của nhân dân về quyền biểu tình đã được nâng cao và những người đã, đang và sẽ tham gia biểu tình thực sự là những con người có bản lĩnh và lòng dũng cảm. Họ đã thể hiện lòng yêu nước của mình, tinh thần đoàn kết dân tộc khi kẻ thù xâm phạm đến chủ quyền lãnh hải quốc gia.
Ngoài ra những cuộc biểu tình này còn có ý nghĩa tập dượt và tích lũy kinh nghiệm cho cuộc đấu tranh dân chủ hóa đất nước trong tương lai gần.

Trấn áp biểu tình là phạm tội

Điều 71 Hiến pháp qui định: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm.
Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật…”
Do đó trước hết phải khẳng định ngay những người ra lệnh và thực hiện mệnh lệnh đã vi phạm nghiêm trọng Hiến pháp Việt Nam năm 1992 khi họ giải tán, trấn áp và bắt giữ những công dân Việt Nam đang thực thi quyền biểu tình theo điều 69 Hiến pháp.
Công an khênh người biểu tình ở Hà Nội
LS Đài nói trấn áp biểu tình là vi hiến
Đồng thời người ra lệnh và người thực thi mệnh lệnh giải tán và trấn áp biểu tình đều là đồng phạm trong các trường hợp sau đây:
- Gây hậu quả chết người tham gia biểu tình: Họ có thể phạm tội giết người theo điều 93 Bộ luật hình sự(BLHS); hoặc tội làm chết người trong khi thi hành công vụ theo điều 97 BLHS.
- Gây thương tích cho người tham gia biểu tình: Họ có thể phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác theo điều 104 BLHS; hoặc tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác trong khi thi hành công vụ theo điều 107 BLHS.
- Khi họ bắt và giam giữ những người biểu tình thì họ có thể phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật theo điều 123 BLHS.
- Trong trường hợp làm hư hỏng tài sản của người tham gia biểu tình, người thi hành công vụ có thể phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo qui định tại điều 143 BLHS.
Như vậy, những người ra lệnh và những người thực hiện lệnh trấn áp biểu tình là họ vi phạm Hiến pháp, pháp luật và chống lại nhân dân.
Tôi kính mong quí vị độc giả góp ý kiến về bài viết này của tôi và cùng tham gia thảo luận: Nhân dân Việt Nam nên sử dụng quyền biểu tình của mình như thế nào?

REPORT ON THE VIOLATIONS OF HUMAN RIGHTS

REPORT ON THE VIOLATIONS OF HUMAN RIGHTS IN

TEMPORARY DETENTION CAMP 1, HANOI

Dear Sir/Madam,

I, attorney Nguyen Van Dai, had been detained nearly 10 months (from March 6, 2007 until January 4, 2008) at the detention center No. 1 in Hanoi before being transferred to Nam Ha prison in Ha Nam province. During the nearly 10 months of detention there, I was transferred to four (4) different detention cells, coming into contacts with hundreds of detainees. I, myself, have suffered as well as witnessed the trampling of human rights of these poor folks, the problem of corruption in the system of detention, which did not only violate the laws of Vietnam, but also violated the International Convention on political and civil rights. To help the international community to know and understand what is taking place in the detention camps of Vietnam, I write what I have endured and witnessed during my time in detention there:

1/ Detention facilities:

In accordance with the penal law of Vietnam, the basic standard for each detainee should be: a) at least 2 meter square sleeping space for a person, b) 2 liters of drinking water per person per day. But the room at the Hanoi temporary detention center for each detainee who has not yet been to the preliminary trial, is only 1.2 to 1.4 meter square, making the detention room always crowded and stuffy, especially during the summer. The temporary detainees are not allowed to use the mosquito net, although those areas are infested with mosquitoes. Through the use of polluted water, many mosquito bites when not treated promptly became infected and created skin lesions.

In the quarter for detainees who have not been through preliminary trials, clean drinking water are not provided. They are given very dirty water, drawn directly from the wells, to use for bathing, washing and sanitation. They have to use socks and washcloths to filter drinking water. In the prison chambers for those who had been tried in the first instance, boiled water is provided, but only in small amount, about 10 liters per day, to be divided among the more than 20 people, none on Saturdays and Sundays.

Food: The detention center provides detainees with only two meals per day, each meal consists a bowl of rice, and vegetables that are very dirty. Meat is given once a week, and less than 100 grams.

Contact: All information and contacts between detainees and their families are strictly prohibited until the investigation ends, or, in some cases, until after the hearing at first instance (especially in political proceedings). In the detention room there are no TV, radio or newspapers. The detainees are not privy to any news that going on in the outside.

2/ The life of the accused and their corrupt wardens:

A detention chamber is divided into four groups with different rights and privileges as follows:

- Upper Group: Special privilege group enjoys all the supplies sent in by families which are pooled together, they pick and choose the best foodstuffs and take the provisions according to their needs, the rest will be distributed back to the under privilege group below. They people are free to travel within the prison chamber and corridors. Those detainees who want to partake in the activities of the upper groups have to have their families pay the prison management about five million dong (approximately $300 USD in 2007) which is good for a term of about three months, after three months if the person has not been tried, the family must pay about one million more for each subsequent month.

- The In-between Group: This group is entitled to about 60% of the Upper groups. They are allowed to move about the cell chamber. The detainees who want to participate in these group activities must have their families pay the prison management between two to three million dong.

- Sanitation Team: These people have to do the sanitation chores in the cell, such as doing laundry, boiling water, making tea for the upper groups. They enjoy a little extra food every day which the upper group donate. Their families have to pay prison management from five hundred thousand to a million dong.

- The Dirt-Poor Group: These are people whose family economic conditions do not allow for bribes for their care. Every day they receive poor standards of detention, which consist of rice, some vegetables, and white salt. Once in a while, when their family brought in provision, they would receive about 1/3 of this family supplies. They have to sit bunching up, grasping their knees and are not free to travel within the cell. These people after a period of detention about three months or more, their health would decline, many would turn deeply depressive, became paralyzed and cannot walk.

3/ Method corruption of management

When a person comes into custody, the warden can assess his person's family circumstances through his records. Prison warden then would ask inmates who are in charge of assigning rooms for new detainees to see what groups he would like to participate with. After the new detainee made his decision to join certain group, the inmate in charge of room assignment would bring him to see the warden, the warden would then allow him to write letters to his family asking them to pay the warden fees. Through the detainee’s address and phone number, the warden will communicate directly with the detainee’s family to get his money. Usually an executive warden would supervise four-chamber cell numbered from 100 to 120 defendants. Each month the warden could earn from 45 to 60 millions dong, this is the estimate for the 2007 time period.

4/ Attitude and treatment of warden toward the detainees:

Temporary detainees are not considered guilty and should not be deprived of their civil rights. They are separated from society for the sake of the investigation. But those who manage them are always looking for ways to degrade their dignity. Most of the detainees are to call the warden ‘teacher’ and refer to themselves as ‘son’ or ‘daughter’, although many of the detainees are in the same age bracket or older than the warden. When the detainees are called out to speak, they are not allowed to sit in chair, they have to sit on the floor while the warden sits in his chair. Those detainees who violate prison rules and are without visiting relatives may get beating.

Every time a new person got detained, if the warden said, "No one asks this person questions" s/he will not be beaten. If the warden doesn’t say anything, then that night when he is taken into custody, the new person would be taught "the law" by the old inmates, the inmate in charge of the new chamber will tell him about "three No’s: no see, no hear, no tell," when someone ask about the violations taking place in detention. Then depending on the new detainee’ attitude, he will either be kicked in the chest or slap in both ears. Approximately 90% of those taken into custody for the first time got beaten thus.

Form of discipline for those who violate the rules of detention camps:

Those who violate the rules of detention camps would be held in a cramped closet, shackled for 7 days, 24/24 hours. They eat and carry out their bodily functions in place, can’t brush their teeth or wash their face daily, no bathing and no changing clothes.

5/ Inspection and monitoring:

Each year, agencies such as the Procuracy, the Police Inspector of the Security sectors regularly organize delegations to visit detention centers for inspection and monitoring arrests and detention conditions. But these inspection and monitoring visits are only perfunctory. All inspection and monitoring trips are announced in advance so the prison warden and those in charge would have time to prepare and shape up beforehand. Management and prison warden would ask the detainees to clean and ship-shape cell rooms, hiding all the banned items. The detainees would be selected, prepped and threatened before they meet the inspection team. So all the inspections and monitors would pass muster, getting good report and no offense.

6/ The supply and use of items prohibited in the detention center:

Under prison rules, the smoking of tobacco and water pipes, consumption of alcohol, beer, tea and the use of cash in the detention area are all prohibited. In fact, all inmates wishing to smoke tobacco or water pipe, drinking alcohol, beer, or even using drugs are also being satisfied. There are two sources of supply providing these stimulants to the detainees:

- The first source of supply is provided by the prison administration itself, the warden asks the detainee’s family to pay and he would buy cigarettes and other stimulants according to the needs of the detainee.

- The second source: there are police officers not involved in prison administration, who would facilitate cash transfer for the detainees. When the detainees see their family, the family is requested to contact the owner of the cafe in front of the detention center and ask them to transfer money to their loved ones. Café owner would take his $50,000 VND fee, then s/he (café owner) would hire the police from the detention center to bring money to the detainees, the detainees would receive only 60% of the amount that the family submitted, the police officers would get his 40% cut.The detainees use the money to buy tobacco at 20 times the price of the outside market going rate (to buy a tobacco package priced $10,000 dong outside, the detainee in detention has to pay $200,000 VND).

Also some of the detainees who wish to meet directly with their relatives must request and pay bribes of at least 2 millions dong to the camp supervisor (normally the detainees only meet his family by phone). Some detainees will give money to their supervising officers so they can see their family freely, then their relatives would give them small packages of drug, they would swallow them and thus transport the drug inside the detention camp. The user would consume part of the banned substance, and part they would sell to others at 20 times the going rate.

7/ The detainees’ effort to overcome difficulties:

The lives of the detainees in the Hanoi detention camp # 1 are brutally harsh. Yet they’d find ways to overcome these difficulties. The detention center do not allow the money to be deposited, so all the family provisions are cooked, prisons banned the use of fire and cooking in chamber confinement, but the detainees have to buy empty milk cans for $200 thousand dong, or beer cans for $100 thousand, and then use nylon bags as fuel to heat the food for the day, plus they also use nylon bags and beer cans to boil their drinking water. Periodically the police of the prison would make their rounds and confiscate all such items. The detainees have to take time and money to acquire these items again.

8/ Illness, diseases and medical care in prison:

The detainees often contracted three main diseases:

- First, skin lesions, caused by dirty water and damp, humid conditions in cramped quarters;

- Second, diarrhea, caused by eating spoiled food since there are no means to heat the food in detention.

- Third, detainees’ physical being become deteriorated which would bring about paralysis, caused by lack of adequate nourishment.

Every day there are health workers to visit people in detention center, but the medical staff just listen and provide medecines, and medicines produced by Vietnam are of low quality, many people have contracted more severe diseases and have to be taken to emergency hospital for treatment, and prolonged and inadequate treatment would affect the health of detainees. Many of the detainees whose economic conditions allow them to bribes prison management so they can receive proper treatment and medicine from family or taken to hospital when their conditions are still treatable and have not become acute.

9/ Corruption in the transfer of prisoners to the prison:

After the first instance or appellate hearings taking effect, ranging from 40 to 60 days, the detention center and prison management agency, under the Ministry of Public Security, will move those who have been sentenced into the prison to carry out the rest of their sentences. Detention in the Hanoi Detention Center #1 would hold some prisoners there who are sentenced to 3 years detention or less to do the kitchen work, farming, tend to livestock, and to carry out services in the detention center. Those prisoners who want to be kept back in detention center, their families have to pay bribes to prison administrators or staff an amount that ranges from 10 to 15 million depending on the location of their work. Those prisoners to be moved to prisons closer to home and doing light works, their families need to pay bribes of about 20 to 40 millions dong depending on the camp and the work they perform. Bribery is possible through the staff at the detention center or through relations with the prison management agency. The prisoners who have no bribes will be transferred to prisons far from their families and carry out the hard labor.

10/ Conclusion:

In Vietnam, the one-party political regime today is no longer consistent with economic development and societal progress. The mismatch of the political institution has created so many injustices in society, with the fundamental rights of the people continually deprived, those who are arrested, their dignity are being trampled. Corruption happens at all levels of society, outside as well as in prison.

What I and other people of Vietnam earnestly wish and call out to the international community is the need for them to act strongly and effectively to persuade and to pressure Vietnam’s communist government, forcing them to respect the importance of human rights provisions stipulated in the Constitution of Vietnam as well as in the Universal Declaration of Human Rights, The International Covenant on Civil and Political Rights.

Political changes in Vietnam will promote human rights and cause them to be honored. This not only brings joy and happiness to generations of Vietnam today and the Vietnam generation of tomorrow, but will facilitate Vietnam’s relation with the world’s civil societies.
Thank you for your time and patience in reading and understanding more of what has happened in the Hanoi Detention Center # 1.
If you have any further question please do not hesitate to contact me Nguyen Van Dai, email: godlovedai@gmail.com.